This site hosted by Free.ProHosting.com
Google

Đạo Gia Khí Công

Chào mừng bạn đă đến với chúng tôi

Chúc bạn một ngày an lành


Giang Hoài Ngọc

----------------

Vọng cổ

Index

----------------

Trúc Lâm Cổ Tự

----------------

Tân Tây Vơ Quán

----------------

Bốc Tử Quán

----------------

Đạo Gia Khí Công

----------------

Thiếu Lâm Tự

----------------

Thi Quán

----------------

Y Quán

----------------

Việt Nam Thân Yêu

---------------

Thư Quán :

Truyện kiếm hiệp

Truyện trinh thám

Bách gia tính

---------------

Nhạc Quán :

------------------

.  ©  .

(phản hồi)

Văn Đức Cung

 

Bản môn bí phổ :

  • Thái Cực Công Pháp
  • Khí Công nhập môn
  • Chu Thiên Công
  • Nội Dưỡng Công
  • Trạm Trang Công

Kinh Huyệt Đồ Phổ :

(xem tại Trúc Lâm Cổ Tự)


Thái Cực Công Pháp

Thái Cực Công Pháp là tinh hoa của Thái Cực Quyền, kết hợp với yêu cầu ư niệm, hô hấp trong luyện khí thành một bộ công pháp khí công

1. Điều tức ninh thần :

Sau khi hết việc, nghỉ ngơi, bắt đầu luyện công

  • Đứng tự nhiên, chân trái bước lên trước 1/2 bước, hai chân song song, dang rộng bằng vai, hai gối chùng, hơi hướng vào trong, sống lưng thẳng, ưỡn ngực thót bụng, thả lỏng vai, khuỷu tay gập, hai bàn tay chạm nhau, đầu, mắt thẳng, tinh thần nội thủ, khép hàm răng, lưỡi để tự nhiên, mũi hít vào, miệng thở ra hoặc cùng dùng mũi miệng

  • Ninh thần điều tức, khí về đan điền, sau đó hai tay khua phía trước, thuận thế đưa ḷng bàn tay ngửa, hai tay đặt phía trước bụng dưới

  • Sau động tác ngừng nghỉ, cùng với hít vào, hai tay từ từ giơ cao, khi ngang ngực, xoay ḷng bàn tay úp xuống, cùng với thở ra hạ thấp xuống, khí tới ngang bụng dưới, xoay bàn tay ngửa lên

Làm 4 lần, sau đó đưa hai tay về trước bụng dưới

2. Phân vân bổng nguyệt :

  • Cách tiếp thượng, hai tay ṿng ra ngoài, từ mé bên người giơ về phía trước hai vai, khi cao ngang đầu, hai ḷng bàn tay xoay vào trong, hai tay ở phía ngoài vai, đầu hơi ngửa, hướng nh́n là từ giữa hai tay ra xa

  • Sau khi nghỉ, hai tay thu về giữa, tiếp theo hai tay từ trước ngực hạ thấp xuống phía trước bụng dưới.

Làm 4 lần. Phối hợp hô hấp, hít vào khi hai tay giơ cao, thở ra khi hai tay hạ thấp. Khi tay giơ cao, cơ thể hơi rướn lên, khi hạ thấp, cơ thể thấp xuống. Ư thủ đan điền

3. Tả hữu thác cầu :

Cách này có thể luyện đơn hoặc luyện kép

  • Động tác 1 : Tiếp thức trước, chân trái thu vào trong chân phải, tạo thành chữ đinh, trọng tâm ở chân phải, chân trái bước lên trước trái 1/2 bước, ḷng bàn tay trái ngửa, ở phía trước ngoài vai trái, tay ngang vai, như động tác ném bóng (thác cầu), ḷng bàn tay phải xoay úp xuống, đưa ra sau ngang với xương cụt, trọng tâm cơ thể rơi về trước như h́nh cung

  • Động tác 2 : Sau động tác ngừng nghỉ, đồng thời xoay hai ḷng bàn tay, tay phải giơ phía trước vai phải, tay trái ngang xương cụt, trọng tâm cơ thể rơi về phía sau, thế ngồi như chữ cung

  • Động tác 3 giống tư thế 1,

  • Động tác 4 giống tư thế 2

  • Động tác 5 : Mũi chân trái thu vào trong, trọng tâm rơi vào chân trái, chân phải thu vào trong chân trái, chân phải bước lên trước 1/2 bước (tay phải ở trước, tay trái ở phía sau), đồng thời xoay hai ḷng bàn tay, tay trái như ném vật ở phía trước vai trái, tay phải như ném vật ở phía ngoài xương cụt, trọng tâm đổ về trước, h́nh chữ cung

  • Động tác 6 : Sau động tác nghỉ, đồng thời xoay chuyển hai ḷng bàn tay, tay phải như ném vật ở phía trước, tay trái như ném vật ở phía sau, trọng tâm đổ ra sau, h́nh chữ cung

  • Động tác 7 như động tác 5

  • Động tác 8 như động tác 6

4. Lưỡng thủ suy sơn :

1 - Tiếp thức trước, chân phải ở trong, chân phải ở trong, chân trái thu về phía trong chân phải, trọng tâm ở chân phải, đồng thời hai tay thu về trước bụng dưới, ḷng bàn tay úp, chân trái bước lên trước trái một bước, hai tay đưa ra trước, cao ngang ngực, thành cung bộ, ḷng bàn tay hướng về phía trước, 5 ngón hơi x̣e, ḷng bàn tay mở "lực tam giác", tư thế hai tay ôm đẩy núi, thân trên thẳng, trọng tâm đưa về trước, gối trái chùng, đầu gối và mũi chân thành một tuyến, thân trên hơi đổ về trước, tuyến nh́n là từ giữa hai tay trở ra, thành thế đẩy núi phía bên trái

2- Sau động tác nghỉ, đồng thời xoay chuyển hai tay, ḷng bàn tay quay ra sau (ngón tay đối diện với phần ngực) thuận thế ưỡn ngực về trước, hai khuỷu tay cách ngực một khoảng, trọng tâm của thân theo vận động chỉnh thể đưa ra sau, thành tọa cung bộ bên phải, cánh tay phải và chân phải hợp thành một tuyến

3 - Giống động tác 1

4 - Giống động tác 2

5 - Đồng thời thu hai tay, thuận thế mũi chân trái thu vào trong, trọng tâm dịch về chân trái, chân phải thu vào trong chân trái, chân phải bước lên trước phải 1 bước, thuận thế 2 tay đẩy núi ở phía trước phải thành cung bộ bên phải, đây là thế đẩy núi bên phải

6 - Xoay chuyển hai tay ra sau, trọng tâm dịch ra sau, thành bước đại tọa cung tả

7 - Động tác giống 5

8 - Động tác giống 6

5. Tả hữu vân thủ :

Đây là h́nh thức kép, sau khi luyện thành thục có thể sử dụng h́nh thức đơn

1 - Tiếp thức trước, tay trái đưa sang trái, tay phải tiếp dưới, thuận thế chân phải thu vào trong tạo thành góc 30 độ, đổi thành mă bộ, đồng thời hai tay mở, tay trái hướng vào trong, ḷng bàn tay hướng nội, vồ bên trái, mắt nh́n ḷng bàn tay, thuận thế quay đầu sang trái, đồng thời tay phải vồ sang trái, đưa khuỷu tay trái ra sau, đồng thời xoay thân trên

2 - Sau đó cùng xoay chuyển hai tay, bàn tay trái úp, tay phải ngửa, ở trước vai trái và cao bằng vai, vồ sang phải đến phía ngoài trước vai trái tạo góc 120 độ, đồng thời tay trái vồ bên phải, khuỷu tay phải đưa ra sau, đồng thời thân trên chuyển động một ṿng, mắt nh́n ḷng bàn tay phải, thuận thế quay đầu sang phải

Cứ lần lượt như vậy 4 lần

6. Đại bàng triển sí :

Cách này tập đơn :

1 - Tiếp thức trước, thuận thế trọng tâm chuyển sang chân phải, chân trái thu vào trong chân phải tựa chữ đinh, tay phải vồ ở phía trước phải

đến khi cao bằng vai phải, đồng thời hai tay vồ hai bên, hạ thấp xuống phía trước bụng dưới, chân trái thuận thế bước lên trước trái 1/2 bước, trọng tâm ở chân phải, sau đó hai cánh tay từ hai bên vồ phía trên cao, hai tay cao bằng đầu, 5 ngón tay thẳng, ngón tay hơi gập vào trong, tay, khuỷu cánh hơi gập hai cánh tay, cổ tay, ngón mềm mại như con rắn trườn ḅ. Thân người cũng rướn cao, thân trên thẳng, đầu thẳng, mắt nh́n thẳng

2 - Sau khi nghỉ một lát, hai tay từ từ hạ thấp xuống phía trước bụng dưới, hai cổ tay đan chéo đặt ở trước bụng dưới, cơ thể hơi hạ thấp

3,4 - Giống động tác 1,2

5 - Đồng thời hạ thấp hai tay xuống bụng dưới, chân trái hơi thu vào, chân phải thu vào trong chân trái, đưa chân phải bước lên trước phải 1/2 bước, trọng tâm ở chân trái, sau đó hai cánh tay từ 2 bên vồ lên phía trên, 2 tay cao ngang đầu, 5 ngón tay chụm, ngón trỏ hơi vểnh lên, tay, cổ tay, khuỷu tay, cánh tay hơi cong, hai cánh tay, cổ tay, ngón tay cần mềm mại, thân cũng rướn lên, thân trên thẳng, chính thủ b́nh thị

6 - Giống động tác 2

7 - Giống động tác 5

8 - Giống động tác 2

7. Hồng long thám trảo :

      Tiếp thức trước, chân phải nội khấu, chân trái thu vào trong chân phải, trọng tâm chuyển đến chân phải, chân trước bước lên trước trái 1/2 bước, thành hữu trọng tiểu tọa cung bộ, thuận thế tay trái giơ ra trước vai trái, ḷng bàn tay ngửa, 5 ngón hơi x̣e, khuỷu tay hơi cong, tay cao ngang vai, thuận thế tay phải từ phải đánh ra sau, 5 ngón hơi x̣e, khuỷu tay gập thaàh góc, tay phải đặt ở sau tai phải

      Sau khi nghỉ, tay phải đưa ra trước, ḷng bàn tay úp, tay cao ngang ngực - miệng, thuận thế thân trên chuyển sang trái, tay trái từ phía ngoài trái hất lên, 5 ngón hơi x̣e, ḷng bàn tay ngửa, khuỷu tay hợp thành góc, dừng ở sau tai trái, thuận thế xoay chuyển tay phải, ḷng bàn tay ngửa

      Lập lại 2 động tác trên

      Chân trái nội khấu, chân phải thu vào trong chân trái, trọng tâm chuyển sang chân trái, chân phải bước lên trước phải 1/2 bước, tay phải đưa ra trước, tay trái đưa ra sau. Sau đó lập lại với hướng bên kia. Lập lại hai động tác trên

8. Thủy trung phủ cầu :

      Tiếp thức trước, mũi chân phải nội khấu khoảng 15 độ, mũi chân trái mở ra ngoài 15 độ, thành cách b́nh vai, tay phải từ sau tai phải qua trước tai ṿng xuống phía trước vai phải, thuận thế tay trái thu chuyển vào trong, ḷng bàn tay úp, cao bằng tay phải, vị trí ở trong tay phải, đồng thời hạ thấp 2 tay xuống trước vai phải như vỗ bóng trong nước, khi hai tay ở phía trước ngực phải vồ xuống dưới, thuận thế lại vồ lên phía trên ngực trái, hai tay cao bằng nhau, vị trí ở trước ngực trái

      Sau đó liên tiếp hai tay lại hạ trước ngực trái, vồ ở trên ngực phải

      Làm lại 2 động tác trên. Sau đó, khi hai tay ở phía dưới trước ngực trái, phải, thuận thế thân trên hơi di chuyển sang trái phải, 2 đầu gối gập duỗi theo hai tay giơ lên hạ xuống, thân người cũng rướn cao hạ thấp theo hai tay, vận động vồ cầu phía trái phải liên kết thành tuyến khép kín như h́nh chữ ¥. Làm 4 lần

9. Tả hữu thác cầu :

      Tiếp thức trước, khi 2 tay hạ thấp phía trước ngực trái, vồ bắt phía trước hông phải, trọng tâm ở chân phải, chân trái thu vào trong chân phải, chân trái bước lên trước 1 bước, thu bụng, 2 ḷng bàn tay úp, vồ phía trước như cách vỗ bóng, tay cao ngang hông, vị trí hai tay thu vào trong chân trái, trọng tâm chuyển về trước, thành cung bộ, gối phải và mũi chân trái thành một tuyến

       Tiếp theo hai tay vồ phía sau, hơi ngang trước hông phải, trọng tâm thân rơi về sau, thu bụng tọa mông, 2 mông nội hợp thành đại tọa cung bộ, mông phải và gót chân phải thành một tuyến, mắt nh́n phía trước trái

      Lập lại 2 động tác trên.

      Sau khi nội khấu chân trái, trọng tâm ở chân trái, chân phải thu vào trong chân trái thành bước chữ đinh, chân phải bước lên trước phải 1 bước, trọng tâm ở phía trước, thành hữu trọng cung bộ. Sau đó lập lại với hướng bên kia. Lập lại 2 động tác trên

10. Khổng tước khai b́nh :

      Coi trọng cách đơn

      Tiếp thức trước, hai tay đối lập nhau, chụm ngón thu về trước bụng dưới, mũi chân phải chếch vào trong, chân trái thu vào trong chân phải, trọng tâm chuyển về chân phải, chân trái bước lên trước trái 1 bước, hai bàn tay đan vào nhau và giơ về trước ngực, cao ngang vú, trọng tâm chuyển về chân trái thành cung bộ, hai tay từ điểm giữa khua sang hai bên, vai, tay, khuỷu tay, cổ tay hợp thành ṿng cung, hai khuỷu tay cao ngang vú, hai tay cao bằng vai, hai tay hợp tuyến đặt ở 2 bên trái phải của ngực, mắt nh́n phía trước

      Tiếp theo 2 tay từ giữa thu về trước bụng dưới, trọng tâm đưa ra sau thành đại tọa cung bộ, mông phải và gót chân phải hợp thành một tuyến

      Lập lại 2 động tác trên

      Sau đó chân phải bước lên trước phải một bước, ngón tay chụm phía trước ngực và vung sang hai bên, trọng tâm chuyển về trước thành cung bộ, đoạn lập lại nhưng đổi hướng. Lập lại 2 động tác đó

11. Bạch Nga lượng sí :

       Coi trọng cách đơn

       Tiếp thức trước, hai tay chụm ngón thu về trước bụng dưới thành đại tọa cung bộ, mũi chân phải chếch vào trong, chân trái thu vào trong chân phải, trọng tâm chuyển về chân phải thành hộ đinh bộ, chân trái bước lên trước 1/2 bước thành hữu trọng tiểu tọa cung bộ, thuận thế tay trái từ trước ngực vung ra ngoài trái, phần khuỷu hơi gập, ḷng bàn tay ngửa về trước, 5 ngón tay hơi x̣e, ngón tay mở tạo lực tam giác, khuỷu mông hợp ṿng cung với vai, cổ tay cao ngang đầu, cổ tay hơi chếch ra ngoài, đồng thời tay phải vung ra sau, cổ tay phải quay ra ngoài, ḷng bàn tay hướng ra sau, ngón trỏ hạ thấp, tay và cổ tay phải cách nhau một bàn tay, thuận thế đầu thân chuyển sang trái, yêu cầu phối hợp lực thống nhất

      Sau khi ngưng nghỉ, tay trái hạ thấp xuống phía sau mông trái, tay phải vung lên phía ngoài vai phải, cổ tay cao bằng đầu, thuận thế đầu thân chuyển sang phải. Tay hạ thấp, lại giơ lên cao khi 2 tay dặt chéo trước bụng dưới th́ lực của toàn cơ thể thu vào trung đan điền

      Lập lại hai động tác trên

      Sau đó mũi chân phải chếch vào trong, trọng tâm chuyển sang chân trái, chân phải thu vào trong chân trái, thành hổ đinh bộ, chân phải bước lên trước phải 1/2 bước, thành tả trọng tiểu cung bộ, thuận thế tay phải từ trước ngực phải vung ra phía ngoài bên trái, phần khuỷu tay hơi gập, ḷng bàn tay hướng ra trước, 5 ngón hơi x̣e, bàn tay x̣e ngón tạo lực tam giác, cổ tay cao bằng đầu, cổ tay hơi chếch ra ngoài, đồng thời tay trái vung ra sau, vị trí ở sau mông phải, ḷng bàn tay đưa ra sau, đầu ngón trỏ thấp, tay và mông trái cách nhau 1 bàn tay, cổ tay và mông hơi đưa ra sau, thuận thế đầu thân hơi chuyển sang phải, tiếp đó lập lại động tác nhưng đổi phương hướng

Lập lại 2 động tác trên

12. Dă mă phân tông :

      Cách tập đơn

      Tiếp thức trước, tay phải ở trên, tay trái ở dưới, mũi chân phải chếch vào trong, trọng tâm chuyển về chân phải, chân trái thu vào trong chân phải, thuận thế chân trái bước sang ngang 1 bước thành mă bộ, tay trái ở trước ngực hạ thấp, cổ tay và khuỷu quay ra ngoài, ḷng bàn tay hướng nội, thuận thế đầu thân chuyển sang phải, mắt nh́n dưới dầu gối phải, tay trái phải đối lập "tranh lực"

      Khi hai tay gặp nhau ở trước ngực, tay hạ thấp ra ngoài, ở trong nâng cao, sau đó tay trái ở trước ngực hạ thấp, cổ tay và gối trái quay ra ngoài, tay phải từ mông phải vung qua ngực hướng ra ngoài, cổ tay và vai phải chếch ra ngoài, thuận thế thân đầu chuyển sang trái, mắt nh́n dưới đầu gối trái

Làm 4 lần

13. Song bôi sáo nguyệt :

     Coi trọng cách kép

     Tiếp thức trước, trọng tâm chuyển về chân phải, chân trái thu vào trong chân phải thành hổ đinh bộ, sau đó chân trái bước ngang sang trái 1 bước, thành thế b́nh vai, tay phải hạ thấp, tay trái giơ cao, đồng thời hai tay thu về trước bụng dưới, hai cổ tay đan chéo ở trước ngực và giơ lên trước trán, sau khi ngừng nghỉ, hai tay tách sang hai bên, cổ tay úp, khuỷu tay cánh tay gập thành h́nh chữ cung, thuận thế gập lưng, hai tay ṿng xuống trước hai chân, hai tay tiếp nối, hai cánh tay gập khuỷu, hai gối thẳng, không được chùng

 

      Sau khi nghỉ, thân trên rướn cao, hai cổ tay giao nhau, xương sống thẳng, ưỡn ngực thót bụng, hai cổ tay giao nhau ở vị trí đỉnh đầu, chính thư b́nh thị, như h́nh cốc

 

Làm 4 lần.

14. B́nh tí khởi :

      Cách kép

      Tiếp cách trước, trọng tâm chuyển về chân phải, chân trái thu về trong chân phải, bàn chân trụ đất, hai mũi chân tách rời, tạo góc 60 độ hai cổ tay giao nhau ở trước bụng dưới, sau đó hai cánh tay từ bên giơ lên, cao bằng vai, ngón trỏ xoay

 

      Sau khi nghỉ, giữ nguyên thân trên, 2 gối gập, thân cong xuống, nhấc gót chân

 

      Sau đó giữ nguyên thân trên, thân người thẳng, gót chân chạm đất, nghỉ, hai mông ngồi xuống, 2 cổ tay đan chéo trước ngực

      Làm 4 lần

15. Bạch tượng hoạt yểu :

       Cách kép

      Tiếp cách trên, trọng tâm ở chân phải, chân trái bước ngang sang trái ½ bước thành thức b́nh vai, sống lưng thẳng, ưỡn ngực thót bụng, ninh thần giáng khí, ư thủ trung đan điền, hai tay đặt ngược với hai tay đặt ngược với hai bên lưng (chỗ huyệt mệnh môn), hai chân thẳng, không được cong, như tùng thông, 5 ngón chân trụ đất, sau đó xoay lưng theo ṿng tṛn, trước hết xoay ngược kim đồng hồ, dùng lưng hông vận động các khớp xương to nhỏ toàn thân, trọng tâm cơ thể ở lưng hông, chuyển đến giữa hai chân, mông phải xoay sang trái sau đó mông trái xoay sang phải

 

       Làm 4 lần

      Sau khi nghỉ, đổi hướng chuyển động, làm tiếp 4 lần nữa

 

      Nghỉ, thân thẳng, khí tụ đan điền.


KHÍ CÔNG NHẬP MÔN

 -----o0o-----

Tiết 1 : NHẬP MÔN

 Trong khí công pháp, phương thức quan trọng hàng đầu là “điều khí”. Do vậy, trước khi muốn luyện tập khí công th́ bắt buộc phải hiểu “Khí là ǵ ?”

 1. “Khí” trong khí công bắt nguồn từ triết học cổ đại Trung Hoa :

Nhân loại từ khi sinh ra đă bắt đầu nhận thức về tự nhiên, hoạt động thực tiễn xă hội, nhằm cải tạo tự nhiên, và đồng thờI đă nảy sinh câu hỏi : Tự nhiên là ǵ ?

Để trả lời cho câu hỏi này, đă ra đời “nguyên khí luận”.

Nội dung cơ bản của “nguyên khí luận” là :

- Thứ nhất, khí là ngọn nguồn tạo ra vạn vật.

- Thứ hai, khí là vật chất vận động không ngừng. Như “Tố Vấn Lục vi chỉ đại luận” viết : thiên khí hạ giáng, khí lưu dư địa, địa khí thăng thiên, khí thăng thiên cực, …

- Thứ ba, khí là môi giới của hiện tượng cảm ứng tự nhiên. Như “Dịch” viết : nhị khí cảm ứng.

Các nhà khí công cổ đại nhận biết được tính hợp lư và tính tiên tiến của nguyên khí luận, bèn ra sức đưa nó vào lĩnh vực khí công để giải thích và hướng dẫn thực tiễn luyện công.

2. Định nghĩa truyền thống về khí trong khí công :

Khí công là một môn học phát triển đến ngày nay, bản thân nó đă hấp thụ học thuyết của các gia phái, như Phật, Nho, Đạo, … nên đă nảy sinh tính phức tạp khi giải thích về “khí”. Mỗi môn phái lại có cách hiểu về “khí” khác nhau, thậm chí có khi trong cùng một môn phái mà cách hiểu cũng không đồng nhất.

Đây là cách định nghĩa “khí” của bản môn :

“Nguyên khí luận” ứng dụng vào y học cho rằng “khí” là vật chất cơ bản cấu tạo nên con người, giải thích đời sống con người thông qua việc biến hóa vận dụng “khí”.

“Khí” cơ bản nhất trong cơ thể người là “chân khí”, c̣n gọi là nguyên khí hay tinh khí. Nó ở ba thành phần : tinh khí hấp thụ từ mẹ cha, khí do t́ vị tiêu hóa hấp thụ được từ ngũ cốc (tức chất dinh dưỡng từ thực vật, bản môn đạo gia chủ chay tịnh trong ăn uống), không khi mà phổi hít vào (là một loại vật chất tinh túy có sức sống mănh liệt, có khắp nơi trong cơ thể người). Các bộ phận như phủ tạng, kinh lạc, … trong cơ thể người là tụ điểm của chân khí ra vào, lên xuống và sống nhờ vào nó, biểu hiện qua hoạt động sinh lư của các cơ quan phủ tạng, kinh lạc, …

Nh́n sự phân bố và đường đi của khí (nghiên cứu bộ sơ đồ huyệt vị, kinh lạc, …) th́ chủ yếu các tác dụng động lực, ấm áp, pḥng ngự, ổn định, khí hóa, … Hàm nghĩa của “khí” trong khí công thực chất cũng không tách rời phạm vi ấy, v́ vậy, có thể nói sơ lược về “khí” là :

- Một là chỉ vật chất tinh túy cấu thành cơ thể người, và duy tŕ hoạt động sống của con người.

- Hai là chỉ công năng sinh lư của các cơ quan phủ tạng.

Hai điểm trên gắn bó hữu cơ không thể tách rời nhau.

-----o0o-----

Tiết 2 : KINH LẠC VỚI LUYỆN CÔNG

  Kinh Lạc chiếm vị trí quan trọng trong luyện công. Luyện công trên cơ sở tuân theo lư luận về Kinh Lạc mới có thể thu được kết quả như ư.

  1. Kinh Lạc :

Toàn thân chủ yếu có 12 Kinh Lạc và Kỳ Kinh Bát Mạch, ngoài ra c̣n có lạc mạch, biệt lạc, tôn lạc. Kinh Lạc phân bố khắp cả trong ngoài, trên dưới cơ thể, chỗ nào cũng có.

Mười hai Kinh Lạc chia thành thủ túc tam âm kinh và thủ túc tam dương kinh.

Thủ tam âm kinh là : thủ thái âm phế kinh, thủ thiếu âm tâm kinh, thủ quyết âm tâm bào kinh.

Túc tam âm kinh là : túc thái âm tỳ kinh, túc thiếu âm thận kinh, túc quyết âm can kinh.

Thủ tam dương kinh là : thủ thái dương tiểu tràng kinh, thủ thiếu dương tam tiêu kinh, thủ dương minh đại tràng kinh.

Túc tam dương kinh là : túc thái dương bàng quang kinh, túc thiếu dương đảm kinh, túc dương minh vị kinh.

Kỳ Kinh Bát Mạch là : âm duy mạch, dương duy mạch, âm mạch, dương mạch, xung mạch, nhâm mạch, đốc mạch, đới mạch.

Kinh Lạc là sự vận hành của khí huyết, là đường nối liền các cơ quan phủ tạng, cho nên Đông y cho rằng lục phủ ngũ tạng, tứ chi hoạt động b́nh thường, gân cốt da dẻ có được dinh dưỡng, khí huyết tuần hoàn, âm dương cân bằng, … đều dựa vào sự vận hành b́nh thường của Kinh Lạc.

  2. Khí công với Kinh Lạc :

Thông qua luyện công, có thể cảm nhận, cảm giác được khí huyết vận động trong các tuyến kinh lạc, tích lũy từng ngày, không ngừng bổ sung hoàn thiện.

“Châm cứu chỉ nam” viết : ngườI học châm cứu đầu tiên nhất định phải tập tĩnh tọa công phu, như thế sự vận hành của kinh mạch và sự đóng mở của khí trong cơ thể có căn cứ xác thực để xác định chính xác huyệt đạo, nếu không sẽ dễ dẫn đến sai sót.

  3. Khí công với Kỳ Kinh Bát Mạch :

Qua các ghi chép cổ và thực tiễn luyện công, quan hệ giữa khí công vớI Kỳ Kinh Bát Mạch c̣n mật thiết hơn 12 chính kinh.

“Bát Mạch Kinh” của Trưởng Bá Đoan đời Tống là một tác phẩm chuyên nói về mối quan hệ giữa luyện công với Kỳ Kinh Bát Mạch, cho rằng : phàm người có Bát Mạch, đều thuộc âm thần, khép mà không mở, chỉ có thần tiên may ra mới có dương khí mở, nên có thể đắc đạo.

Trong thực tiễn luyện công, có thể thấy trong Bát Mạch, hai mạch Nhâm Đốc là quan trọng, mà Đốc Mạch quan trọng hơn.

V́ thế, trong “Kỳ Kinh Bát Mạch khảo” của Lư Thời Trân đời Minh cũng cho rằng : luyện công làm thông hai mạch Nhâm Đốc, tăng tuổi thọ.

  4. Luyện công với châm cứu :

Luyện công có lợi cho việc nâng cao hiệu quả châm cứu và ngược lại.

Nếu luyện công xuất hiện những sai lệch, có thể dùng khí công châm hoặc châm cứu b́nh thường để sửa chữa sai lệch.

Ví dụ, một người bị kinh động trong khi luyện công, khí trong người bị rối loạn, dùng châm cứu thông thường trên các huyệt Tam Căn, Thần Môn, Khí Hải, Thái Xung một tuần th́ khỏi hẳn. Nguyên do là châm cứu làm thông Kinh Lạc, khí huyết dồi dào, những rối loạn trở nên b́nh thường, sức khỏe hồi phục.

  -----o0o-----

Tiết 3 : TINH – KHÍ - THẦN VỚI LUYỆN CÔNG

 

Đông y xem “tinh - khí - thần” là “nội thể tam bảo”. Danh y đời Thanh là Lâm Bội Cầm từng viết trong “Loại chứng trị tài” : vốn quư trong nội thể con người là “tinh - khí - thần”. Từ Xuân Phú, danh y đời Minh, cũng cho rằng : phú thiện dưỡng sinh giả dưỡng nội.

Dưỡng nội chính là điều dưỡng “tinh - khí - thần”. Quá tŕnh luyện công cũng là việc điều ḥa “tinh - khí - thần”. Trong quá tŕnh ấy, “thần” là chủ yếu, “khí” là động lực, “tinh” là cơ sở, từ đó phối hợp hài ḥa, thiếu một cũng không được.

  1. Luyện công với “tinh” :

“Tinh” là vật chất cơ bản tạo ra hoạt động của cơ thể. Đông y rất xem trọng việc thịnh suy “tinh” đối với cơ thể người.

“Tinh” được chia thành hai phần : tinh bẩm sinh và tinh nuôi dưỡng phủ tạng. Cả hai có mối quan hệ mật thiết, cùng song song tồn tại.

Trong khí công, “tinh”, trước gọi là nguyên tinh hay chân tinh, có thể phân chia trên cơ sở sinh lư. “Nguyên tinh” tương đương với “thiên quư” trong y kinh, là một loại vật chất cơ bản của cơ thể. “Nguyên tinh”, “thần” và “khí” ngưng tụ kết hợp, tạo ra nội đan trong khí công, có thể giúp con người kéo dài tuổi thọ, trẻ măi không già.

Đông y cho rằng “tinh” tiềm ẩn trong thận, khi quan hệ giới tính, “tinh” sẽ phóng ra từ thận. Nếu chuyện pḥng the quá độ dễ dẫn đến nhanh lăo hóa và sinh nhiều bệnh. Nhận thức này, đồng thời với yêu cầu của khí công, người luyện công cần chú ư vấn đề tiết tinh, tụ tinh, không nên tiêu hao quá độ, nếu không sẽ thiếu cơ sở vật chất luyện tinh hóa khí, luyện công khó thành.

Trong các ghi chép cổ, nguyên tinh c̣n được gọi bằng nhiều tên khác nhau : chân chân diện, bạch tuyết, thủy hổ, kim dịch (khác với “ngọc dịch”, đừng lẫn lộn mà đi vào đường tà), …

2. Luyện công với “khí” :

“Khí” cũng chính là vật chất cơ bản tạo thành hoạt động sống của con người. “Khí” có tác dụng thúc đẩy, pḥng ngự khí hóa, cơ thể người không thể thiếu khí trong giây phút nào.

“Khí” gồm 4 loại :

 - Nguyên khí : là động lực của cơ thể.

 - Tông khí (không khí) : hô hấp có thể tạo âm thanh, thúc đẩy sự vận hành của huyết dịch.

 - Dịch khí : có tác dụng nuôi dưỡng cơ thể.

 - Vệ khí : pḥng chống những xâm nhập từ bên ngoài vào.

“Khí” trong khí công được chia thành 2 loại :

 - Khí bẩm sinh, tức nguyên thủy tổ khí, cũng chính là nguyên khí.

 - Khí thời kỳ sinh trưởng là chỉ hô hấp.

Tôn chỉ của luyện công là khí, do đó cần chăm sóc giữ ǵn nguyên khí, tích cực luyện thở chính là hạt nhân của luyện công.

Thở bụng đều và sâu có thể tăng lượng khí cung cấp cho năo, điều tiết thần kinh, giúp toàn thân thêm linh hoạt, an thần, có lợi cho trí tuệ.

3. Luyện công với “thần” :

“Thần” chỉ hoạt động tư tưởng, ư thức của con người. Trong toàn thể hoạt động sống, “thần” giữ vai tṛ chủ đạo. “Hoàng đế Nội Kinh Tô Vấn” viết : có thần th́ hưng thịnh, mất thần th́ suy vong.

“Tiên thiên thần” gọi là nguyên thần, là tinh huyết của cha mẹ kết thành bào thai sinh ra đă có. Trong các sách khí công cổ gọi là thiên tinh.

“Thần” trong thời kỳ sinh trưởng gọi là dục thần, là hoạt động ư thức được h́nh thành sau khi tách khỏi cơ thể mẹ và chịu những tác động của môi trường, các sách khí công cổ gọi là tinh khí chất.

“Nguyên thần” không chịu sự chi phối của hoạt động tư tưởng ư thức và chỉ đạo hoạt động sống của cơ thể người.

“Dục thần” chỉ đạo hoạt động tư tưởng ư thức của con người.

Do “nguyên thần” thường xuyên chịu sự tác động của ngoại cảnh, sự lạm dụng thường xuyên của “dục thần” cũng làm tổn hại “nguyên thần”. V́ thế, mục đích của luyện công là bài trừ những nhân tố kích thích, bảo dưỡng nguyên thần, có tác dụng tăng cường sức khỏe, trí tuệ.

Tu luyện nội đan trong khí công do “thần” chủ tŕ. “Nguyên thần”, “nguyên tinh”, “nguyên khí” cả ba hợp lại thành một, tạo thành nội đan, với những hiệu quả tốt như bách bệnh tiêu trừ, khỏe mạnh, vui vẻ, …

Trong các sách khí công cổ thường gọi “nguyên thần” với nhiều tên khác nhau : hoàng nha, ngọc dịch, hỏa long, …

Tóm lại : khí công luyện tinh, khí, thần là quan trọng nhất. Các phương pháp tập luyện như : an thần, điều thần, ngưng thần, … giúp luyện công đạt hiệu quả cao.

  -----o0o-----

  Tiết 4 : ĐẠI NĂO VỚI LUYỆN CÔNG

 

Trong Đông y, năo không thuộc về lục phủ ngũ tạng. Năo nằm ở đầu. Đông y quy năo về tim, nên có câu nói “tâm chủ thần minh”. Trong “Văn hiến khí công”, nhận thức về năo có hoàn thiện và chú trọng hơn so với “Hoàng đế nội kinh”.

  1. Khí công với thần kinh năo :

Trong thực tiễn luyện công, nhờ nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của năo trong luyện công mà cổ nhân đă biết “dục đắc bất lăo, hoàn tinh bổ năo” (nếu muốn trẻ măi không già nên chăm sóc bồi bổ cho năo), và cho rằng luyện tập khí công chính là thông qua phương thức “hoàn tinh bổ năo” nhằm phát huy tác dụng kéo dài tuổi thọ, tăng trí thông minh, bảo vệ sức khỏe, cũng như trị bệnh.

Cuốn sách kinh điển khí công đời Tấn “Hoàng đ́nh nội cảnh kinh” cho rằng năo ở vị trí cao nhất trong cơ thể người, là nơi hội tụ của hàng trăm dây thần kinh. Thần kinh năo chi phối hoạt động ư thức của toàn bộ cơ thể. Luyện công coi trọng ư niệm, mà ư niệm lại tập trung ở năo. V́ vậy việc thành bại trong luyện công chủ yếu được quyết định bởi năo.

  2. Luyện công với làm sạch đại năo :

Trong công việc, sinh hoạt, thần kinh thường xuyên trong trạng thái bị kích thích, căng thẳng, dẫn đến những sự rối loạn một số chức năng, khiến cho các bệnh lư về cơ thể, thần kinh theo đó mà xuất hiện.

Khí công là một phương pháp luyện tập tự ḿnh điều tiết, thông qua tác dụng nội ư thức đặc biệt, duy tŕ trạng thái yên tĩnh của đại năo, nâng cao khả năng chống lại sự quấy nhiễu …

“Điều tâm nhập tĩnh” là bài trừ những ư niệm hỗn tạp, tạm thời ngừng ngắt mối liên hệ của đại năo với thế giới ngoại cảnh, gạt bỏ mọi nhân tố kích thích của ngoại cảnh, duy tŕ sự yên tĩnh trong đại năo. Đồng thời thông qua luyện khí thường xuyên sẽ có tác dụng điều tiết tốt hoạt động tâm lư, t́nh cảm trong cơ thể người, giúp cho đại năo tránh được những kích thích xấu từ môi trường.

Tóm lại, luyện khí nhằm làm sạch, bảo vệ đại năo, điều ḥa các hoạt động tâm sinh lư một cách nhịp nhàng, pḥng hoặc chữa trị các bệnh về tâm lư.

3. Luyện công với luyện năo :

Các phương pháp luyện khí hầu hết đều coi trọng đại năo. “Đạo khu – Di Sinh thiên” xem năo là linh hồn của cơ thể, trung tâm của các dây thần kinh, nguồn gốc của tân dịch. Lại nói : phương pháp đúng đắn luyện năo là “viên hư” và “quân chân”. “Viên hư” chỉ ư niệm, “quân chân” chỉ tân dịch. Ư niệm thuộc dương, dương không thể không có âm, cho nên cần có dịch vị thuộc âm kiềm chế. Trong “Hoàng đ́nh kinh” cũng có ư này.

Khi luyện công, ư niệm hoạt động ở trong năo, cần phải có tân dịch sạch sẽ để nhập vào nê hoàn, lúc này âm dương dồi dào, đầu óc tỉnh táo minh mẫn.

Năo bộ c̣n gọi là thượng đan điền, nh́n chung đều không dám ư thủ bởi v́ ư thủ thượng đan điền dễ tẩu hỏa nhập ma. Nội công dưỡng sinh truyền thống cũng xem luyện năo là then chốt, nhất thiết phải nắm vững phương pháp, nếu không dễ dẫn đến sai lầm.

  -----o0o-----

Tiết 5 : NGŨ TẠNG VỚI LUYỆN CÔNG

 

1. Luyện công với tim :

“Hoàng đế Nội kinh Tô Vấn” viết : Tim, nguồn gốc của sự sống, hiện thân của thần.

Tim là nguồn gốc của sự sống, thần tập trung trong nó, chịu sự chi phối của nó. Nếu tâm khí không đủ, hoặc không thông sẽ xuất hiện các bệnh tật về tinh thần ư thức.

Luyện công thông qua thả lỏng cơ thể, nhập tĩnh, tập trung ư niệm để đạt được mục đích điều tâm dưỡng thần. Tâm thần yên ổn có thể phát huy hết vai tṛ chủ đạo, kết hợp hài ḥa chức năng của các tạng phủ, giúp cho cơ thể luôn trong trạng thái thoải mái nhất, dẫn tới khỏe mạnh, trường thọ.

Đông y cho rằng : tim là nơi bắt nguồn của các mạch máu, máu đều thuộc về tim. V́ vậy, sau khi luyện công xuất hiện hiện tượng mạch đập chậm, sắc mặt hồng hào. Dục Duyên, khí công đại sư thời Tống, nói : tâm hư tinh ngưng, thần ngưng khí tụ, khí tụ tinh sinh.

2. Luyện công với phổi :

Phổi quyết định điều hành hô hấp trong cơ thể. Đây là một trong những yếu tố quan trọng trong luyện công.

“Hoàng đế Nội kinh Tô Vấn” viết : “Hô hấp tinh khí”, tức là điều ḥa hô hấp. Trong khí công, thông qua việc thổ cũ nạp mới, tinh khí không chỉ tràn đầy nguyên khí mà c̣n thúc đẩy sự vận hành của khí huyết.

Phổi c̣n quyết định sự đẹp xấu của da. Những người luyện công do có ư thức luyện hô hấp nên thường cảm thấy da dẻ ấm áp, hoặc ra mồ hôi lấm tấm, có tác dụng cải thiện thể chất của con người. Trong luyện công c̣n cảm thấy các lỗ chân lông mở ra cùng với hô hấp. Đấy là một trạng thái khí công có tác dụng tốt đối với cơ thể, tăng cường công năng cho phổi.

  3. Luyện công với lá lách :

Lá lách là cơ sở cho sự phát triển của con người sau khi lọt ḷng, có tác dụng vận chuyển nước, sinh khí, sinh huyết. Thông qua luyện công có thể làm cho chức năng của lá lách ngày càng tốt hơn, như vậy dinh dưỡng trong cơ thể được cải thiện nhiều, thể trọng tăng, bắp thịt đầy đặn.

Chức năng của lá lách kiện toàn sẽ khiến cho chức năng của dạ dày cũng phát triển theo. Khi luyện công cảm thấy dạ dày réo, đó là khí trong dạ dày chuyển động tạo ra.

4. Luyện công với gan :

Những kích thích mạnh từ bên ngoài, đặc biệt là sự giận dữ sẽ ảnh hưởng tới gan, sinh ra bệnh gan. Thả lỏng, nhập tĩnh trong luyện công, t́nh cảm thư thái ổn định có thể làm can khí ổn định, không xâm phạm đến tỳ vị, hoặc làm giảm can hỏa. Như thế vừa bảo vệ gan, vừa bảo vệ các cơ quan phủ tạng khác. Gan quan hệ mật thiết với mắt nên trong “Âm phù kinh” viết : cơ tại mục.

Các sách khí công cổ đại cho rằng toàn bộ cơ thể người thuộc âm, chỉ có mắt thuộc dương, thông qua việc nhắm mắt dưỡng thần, tĩnh tâm hướng nội, nhận một số kích thích của các cơ quan phủ tạng nhằm kích thích hoạt động của các chức năng cơ thể. Đồng thời, mắt không hướng ngoại th́ nguyên thần được ngưng tĩnh, giảm bớt sự tiêu hao năng lượng, kéo dài tuổi thọ.

  5. Luyện công với thận :

“Thận là gốc rễ bẩm sinh” nằm ở phần bụng phải, trái mỗi bên một quả, bao gồm mệnh môn, trong chứa nguyên âm, nguyên dương.

Mệnh môn là bộ phận được các khí công đại sư coi trọng. Trương Giới Tân, danh y đời Minh, nói : Mệnh môn là phủ tạng của thủy hỏa, là nơi trú ngụ của âm dương, là biển của tinh khí, là động lực của sự sinh tử. Lại nói : nếu thiếu mệnh môn, khí âm dương trong ngũ tạng sẽ không thể nào phát ra được. Như thế đủ thấy mệnh môn quan trọng như thế nào đối với cơ thể người. V́ vậy c̣n gọi mệnh môn là đan điền.

Khí công thông qua ư thủ đan điền, có thể làm cho lục phủ ngũ tạng phát huy hết công năng, đảm bảo cho sức khỏe và sự trường thọ.

Nguyên âm bao gồm thận tinh, nguyên dương bao gồm thận khí, là gốc rễ của mọi khí huyết âm dương toàn thân. Luyện công làm cho nguyên âm, nguyên dương hưng thịnh, đảm bảo cơ sở vật chất cho sức khỏe và trường thọ.

Luyện công c̣n có ích cho việc cân bằng âm dương, thủy hỏa sung măn, cho nên những bệnh căn về thận như mất ngủ, di tinh, mộng tinh, yếu sinh lư, … khi dùng liệu pháp khí công để chữa trị đều có hiệu quả tốt.

Sự dồi dào về nguyên âm được biểu thị trong luyện công như tân dịch tăng, v́ thế, cổ nhân nói : “tân, thận nhất gia”. Loại tân dịch ấy có thể nuôi dưỡng phủ tạng, bổ thủy tề hỏa, hạ hỏa dưỡng tâm, và có các tên gọi khác : kim dịch, cam lộ, thần thủy,

  -----o0o-----

  Tiết 6 : ĐIỀU THÂN

 

Điều thân c̣n gọi là điều h́nh, là điều chỉnh thân thể, tập luyện tư thế trong luyện công. Điều thân yêu cầu chủ yếu người luyện công trong thời gian luyện công, các phần cơ thể để tự nhiên, cơ bắp thả lỏng, tiện cho điều tức và điều tâm. Điều thân chủ yếu có 4 cách : đi, đứng, nằm, ngồi. Trong đó nằm, ngồi thường được dùng. Ngoài ra c̣n có các phép điều thân tự do, tùy môn phái.

  1. Cách nằm :

a) Nằm ngửa :

Nằm ngửa trên giường, đầu cổ thẳng, gối cao vừa phải, hơi nhắm mắt, tứ chi duỗi thẳng tự nhiên, hai chân song song, hai tay đặt hai bên thân người, ḷng bàn tay hướng xuống, hoặc hai tay khum lại đan chéo vào nhau, bàn tay đặt úp ở phần bụng dưới rốn.

Cách này thích hợp với người già luyện công, hoặc người bệnh gầy yếu, thường tập trước khi đi ngủ.

b) Nửa nằm :

Có thể trực tiếp nằm trên ghế gấp, theo cách nửa nằm, cũng có thể dựa trên cơ sở cách nằm ngửa, nửa thân trên và đầu kê cao phù hợp, dựa vào giường.

Cách này hợp với người bị bệnh tim mạch, hoặc người luyện công có thể lực yếu.

c) Nằm nghiêng :

Nằm nghiêng trên giường, hoặc nghiêng sang trái, sang phải, đa số nghiêng sang phải. Khi nằm nghiêng thân trên thẳng, đầu hơi thu vào ngực, gối đầu ngay ngắn, gối cao sao cho dễ chịu là được. Cần chú ư khi nằm nghiêng đầu không được che kín lỗ tai, cánh tay đặt trên cơ thể thuận thế tự nhiên, cánh tay dưới gập khuỷu chạm xuống giường, bàn tay tự nhiên đặt trên gối phần đầu phía trước mắt, thân h́nh cung. Chân dưới thẳng tự nhiên, phần trên đùi chân trên gối gập thành góc 110 độ.

Cách nằm nghiêng phù hợp người có thói quen ngủ, dễ thở bụng, là tư thế thường được dùng nhất trong cách nằm.

d) Ngọa tiếp :

C̣n gọi là tam tiếp, nằm nghiêng sang trái hoặc phải, huyệt Lao Cung trong ḷng bàn tay dưới tiếp giáp với huyệt Khúc Tŕ của phần khuỷu tay trên, gập gối của phần chân trên, giơ cao, huyệt Lao Cung ḷng bàn tay trên tiếp giáp với huyệt Hạc Đỉnh của phần gối tay trên, huyệt Thông Tuyền của ḷng bàn chân trên tiếp giáp với huyệt Túc Tam Lư của phần gối chân dưới.

Cách này rất hợp với người thể chất suy nhược.

e) Nằm khoanh chân :

Trên cơ sở cách nằm ngửa, yêu cầu hai chân gập gối, đan chéo vào nhau, ḷng bàn chân hướng ra ngoài, hai tay nắm vào nhau đặt trước bụng.

Cách này hợp với người “luyện công chay”, đắc khí cản cường. Cách nằm này người dễ ngủ hoặc dễ sinh hôn mê.

g) Nằm ngửa kê gối :

Dựa trên cơ sở cách nằm ngửa, dưới cánh tay có kê cao bằng vật mềm, độ cao vừa phải, phần khoeo chân cũng có thể dùng vật kê phù hợp, khiến phần bụng hơi ưỡn lên.

Cách này hợp với người sa dạ dày.

  2. Cách ngồi :

a) Ngồi bằng :

Ngồi trên ghế băng hoặc ghế cao, yêu cầu độ cao thấp thích hợp. Toàn thân thả lỏng, ngay ngắn, đầu cổ thẳng, mắt hơi nhắm, lộ ra chút tia sáng, thần bất ngoại tŕ, hai môi khép hờ, lỏng vai, thẳng ngực, hai tay đặt nhẹ trên hai đùi, hoặc đan chéo nhau ở phần bụng. Lưng thẳng tự nhiên, bụng thả lỏng, hai chân song song tách rời, mở rộng bằng hai đầu gối và vai, bắp chân dưới và đùi hợp thành góc 100 độ.

Cách ngồi này là phương pháp phổ thông nhất, các công pháp đều có thể sử dụng.

b) Ngồi dựa :

Tư thế giống như cách ngồi bằng, có điều phần lưng hơi dựa vào vai ghế, hai tay đặt nhẹ hai bên, hai chân hướng về trước tạo thành góc thích hợp.

Cách này hợp với người già hoặc người suy nhược cơ thể, cũng có thể sử dụng với cách ngồi bằng.

c) Ngồi bằng tṛn :

Ngồi xếp bằng tṛn trên giường hoặc dưới đất, cũng có thể ngồi trên băng ghế gỗ đặc chế, tạo độ cao để ngồi.

Tư thế ngồi gồm 3 bước :

- Bước 1 : ngồi bằng tṛn tự nhiên, tư thế nửa thân trên giống cách ngồi bằng, phần vai hơi nhô cao, hai chân xếp lên nhau, trái trên phải dưới hay phải trên trái dưới đều được, phần mắt cá chân kê vật mềm càng tốt, hai tay nắm vào nhau hoặc đặt song song, ḷng bàn tay ngửa, vị trí trước bụng, cũng có thể đặt trên hai đầu gối, thả lỏng 5 ngón tay, ḷng bàn tay ngửa hay úp đều được.

- Bước 2 : cách ngồi bằng tṛn đơn, chân trái đặt trên chân phải hoặc chân phải đặt trên chân trái.

- Bước 3 : cách ngồi song bằng, bàn chân trái đặt trên đùi phải, đồng thời bàn chân phải đặt trên đùi trái, hai ḷng bàn chân ngửa lên trời.

Cách ngồi bằng tṛn an tĩnh tư tưởng. Nhưng người mới học khi luyện cách này hay bị tê chân, có thể duỗi hai chân, xoa bóp một lúc, nếu chưa dễ chịu nên đổi sang cách luyện khác. Người già nên sử dụng cách luyện này.

d) Ngồi quỳ :

Quỳ hai đầu gối, bàn chân ngửa, cơ thể ngồi tự nhiên trên chân, hai tay nắm vào nhau, bụng thả lỏng, giống như cách ngồi bằng.

Cách này có lợi cho luyện cố tinh công, do chân tương đối mỏi, cũng có tác dụng thư giăn cho thân và đùi.

  3. Cách đứng :

a) Đứng tự nhiên :

Hai chân tách rời và mở rộng bằng vai, hai đầu gối hơi chùng, chú ư đầu gối và mũi bàn chân nằm trên một đường thẳng, đầu cố định, hơi ngả về trước, nhắm hai mắt như mặc niệm, miệng hơi mím, đầu lưỡi chạm hàm ếch, hai khóe mép hơi nhếch như cười, mũi thở tự nhiên, thả lỏng vai và khuỷu tay, hai bàn tay chạm nhẹ vào hai bên đùi, mười ngón tay thả lỏng, phần cổ không lệch không nghiêng, hơi thu vào, xương cột sống thẳng, ưỡn ngực, lưng thẳng, thả lỏng bụng.

Khi luyện tập, dựa vào thế tay khác nhau mà chia thành cách đứng khác nhau :

- Cách 1 : đè bụng, hai tay nắm vào nhau, vị trí đặt ở phần bụng dưới.

- Cách 2 : ôm đan điền, ngón tay x̣e ra như nắm bắt một vật ở vị trí trước rốn, tựa như ôm hạ đan điền.

- Cách 3 : ôm ngực, hai cánh tay giơ cao đối lập hai bên miệng, vị trí trước ngực, ṿng thành ṿng tṛn.

- Cách 4 : tiền suy, hai cánh tay giơ về trước, ḷng bàn tay hướng về trước, ngón tay hướng lên.

- Cách 5 : hai tay mở sang hai bên, cánh tay và người hợp thành góc 45 độ.

- Cách 6 : thủ thác, hai cánh tay giơ cao, hai ḷng bàn tay hướng lên trên và ngang đầu, như ném vật đi.

b) Tam hợp :

Chân trái bước sang ngang một bước, thân hơi cúi, hai gối tạo thành góc 90 độ, tay trái đưa ra trước, vị trí ở trên chân trái, yêu cầu nghiêng so với ngón chân và mũi bàn chân, khuỷu tay và đầu gối nằm trên một đường thẳng, tay phải đặt dưới gối chân phải, cổ thẳng, yêu cầu mũi thẳng rốn, mắt nh́n về trước, chếch sang phải.

Đây gọi là cách tam hợp v́ vai hợp với bước chân, khuỷu hợp với đầu gối, tay hợp với chân.

c) Mă bộ tấn :

Đứng thả lỏng, hai chân dạng rộng bằng vai, mũi bàn chân hơi hướng vào, ngón chân cong lên, gối chùng, thân người hạ thấp như cưỡi ngựa. Chú ư đầu gối không vượt quá mũi bàn chân, hai tay giống cách ôm đan điền.

Cách đứng này đa số hợp với người khỏe mạnh hoặc người có thể lực khá tốt, với cơ thể cường tráng tác dụng rất rơ. Lúc đầu, khi chưa quen có thể dùng cách đứng tự nhiên, thời gian có thể ngắn một chút, sau luyện cách tam hợp, mă bộ tấn. Người mới học dễ xuất hiện mỏi tê bụng lưng, cần kiên tŕ, không bỏ dở.

4. Cách đi :

Cách đi c̣n được gọi là Tẩu Thức, dễ thực hiện thả lỏng, hợp với người già. Tư thế của bước đi có rất nhiều, song bản môn chỉ giới thiệu mấy loại bước đi nhanh.

Người đứng tự nhiên, hai chân tách đặt song song, hai tay lần lượt đặt ở phần bụng dưới. Trước hết chân trái bước lên trước một bước nhỏ, đầu gối chân phải thẳng tự nhiên, mũi chân trái chạm đất, đồng thời chân phải chùng gối, sau đó đặt toàn bộ chân trái xuống đất, gối trái hơi đưa về trước như tư thế bắn cung, nửa thân trên cũng đổ về trước, chân phải thẳng và song song với chân trái, mũi chân phải từ từ chạm đất, đồng thời gối hơi chùng, trọng tâm lúc này rơi vào chân trái.

Tiếp tục chân phải bước về trước một bước nhỏ, sau đó các động tác giống như trước, chân trái, phải lần lượt bước về trước. Hai mắt mở, nh́n về phía trước hoặc mũi bàn chân. Thân h́nh giống cách đứng tự nhiên.

Ngoài ra c̣n có một loại tiềm thức, cũng gọi là cách tự do, không yêu cầu áp dụng tư thế cố định, dựa vào tự thân mà xử lư, do mỗi người thích tư thế luyện công đẹp. Tiềm thức không có kết cấu h́nh thức, tự do tự tại, phù hợp với tự nhiên nhưng yêu cầu toàn thân thả lỏng, lỏng tĩnh tự nhiên.

Cách tiềm thức chỉ những cao thủ đă luyện qua giai đoạn nhập môn, đến bậc trung thừa mới nên sử dụng.

  -----o0o----- 

Tiết 7 : ĐIỀU TỨC NHẬP MÔN

 

Điều tức chính là điều luyện hơi thở, cũng chính là luyện hô hấp, đạo gia gọi là thổ nạp, c̣n được gọi là đài tức, điều khí, thực khí, …

Thổ nạp là mắc xích quan trọng để duy tŕ hoạt động sống của con người. Thổ nạp chính là liên tục diễn ra hoạt động thay thế, thổ củ nạp mới, hít dưỡng khí, thải hồi tục khí.

Luyện thổ nạp chính là chủ ư có ư thức điều chỉnh hơi thở của ḿnh, khống chế hơi thở một cách hiệu quả, làm cho nó phù hợp với thể trạng sức khỏe của ḿnh, chọn ra một phương pháp thổ nạp phù hợp có tác dụng cường thân trị bệnh. Khi luyện thổ nạp, yêu cầu thở tự nhiên, tuần tự, sâu, phối hợp mật thiết với điều thân, điều tâm.

Sau đây là một vài phương pháp điều tức nhập môn, phù hợp cho người mới bắt đầu luyện công, chưa thể thực hiện ngay phép đại hô, đại hấp, quy tức, thai tức, hầu tức, …

  1. Thổ nạp bằng miệng - mũi :

Thổ nạp b́nh thường, chủ yếu là mũi - miệng, do nguyên nhân luyện công khác nhau nên chia thành 3 loại :

a) Cách hít vào, thở ra bằng mũi : dùng mũi hít vào và cũng dùng mũi thở ra, không thổ nạp bằng miệng. Cách này dùng nhiều nhất trong các công pháp nhập môn.

b) Cách hít vào bằng mũi, thở ra bằng miệng : khi hít miệng ngậm lại, để mũi hít vào, sau đó há miệng để miệng tự thải khí.

c) Cách hít vào, thở ra bằng miệng : đó là miệng vừa hít vào vừa thải khí, rất ít khi được dùng. Nếu người mắc bệnh viêm xoang có thể sử dụng cách này.

2. Thổ nạp tự nhiên :

Đây là cách thổ nạp thường dùng của người luyện công, yêu cầu thổ nạp đều, từ từ. Đây là mấu chốt của điều tức, từ góc độ sinh lư, thổ nạp tự nhiên được chia làm 3 loại : thổ nạp bằng ngực, bằng bụng và thổ nạp hỗn hợp.

Phụ nữ thường thổ nạp bằng ngực, nam giới thổ nạp bằng bụng. Và nhiều người c̣n luyện theo cách hỗn hợp.

a) Thổ nạp bằng ngực : khi thổ nạp, lồng ngực phồng lên xẹp xuống cùng với động tác thổ nạp.

b) Thổ nạp bằng bụng : khi thổ nạp phần bụng phồng lên hay xẹp xuống theo động tác thổ nạp.

c) Thổ nạp hỗn hợp : khi thổ nạp, phần ngực - bụng phồng lên hay xẹp xuống theo động tác thổ nạp.

3. Thổ nạp sâu bằng bụng :

Cách này có từ cách thổ nạp tự nhiên bằng bụng, qua luyện tập sẽ dần có được. Trong khi luyện công, chú ư thở ra từ từ, làm cho cơ bụng co lại, nhưng lại thu khí vào trong phần bụng, khi hít vào thả lỏng cơ bụng, phần bụng hóp lại tự nhiên. Qua một thời gian luyện tập, phần bụng có thể dần to tự nhiên, nhưng không được dụng ư quá mức, dụng lực quá mạnh. Cách thổ nạp sâu bằng bụng có thể chia thành :

a) Cách thổ nạp thuận bụng : ở trên đă nói cách thổ nạp bằng bụng thông thường, khi hít vào bụng to dần, khi thở ra bụng dần hóp lại.

b) Cách thổ nạp nghịch bụng : khi hít vào cơ bụng dần co lại, khiến cho phần bụng lơm vào, khi thở ra phần bụng tự nhiên thả lỏng, nhưng dần phồng lên, trái với cách thổ nạp thuận bụng. Cách thổ nạp này vốn không phải thói quen, cần qua một thời gian luyện tập. Cách này đa số dùng trong công pháp, nhất là các loại khí công vơ thuật, có tác dụng tốt cho việc thúc đẩy chân khí sung măn trong huyệt đan điền và mệnh môn.

Trong vơ thuật, có thể tăng cường khả năng tự vệ của phần lưng bụng như kết hợp với phóng ngoại khí (chưởng), tiến hành ra đ̣n, nâng cao tŕnh độ. Khi luyện thổ nạp nghịch bụng thường dùng ngực để thở ra, dùng ngón tay xoa hai mắt và bụng, có thể cảm thấy cơ ở phần này nhô lên, đấy chính là biểu hiện của đới mạch chân khí sung măn.

Các khí công đại sư thường nhấn mạnh luyện thổ nạp bằng bụng, cho rằng đấy là phương pháp cơ bản trong điều tức, là một mắc xích không thể thiếu đối với người mới học khí công. Các nghiên cứu thực tế ngày nay tại Trung Hoa phát hiện : thổ nạp sâu bằng bụng có tác dụng xoa bóp phần bụng, tác dụng rất rơ đối với hệ tiêu hóa.

Khi luyện công thổ nạp bằng bụng sẽ ngủ ngon và tăng cường phân tiết của tuyến dạ dày, nước bọt, nhiệt độ phần bụng tăng, tăng cường tuần hoàn mạch máu của ruột và dạ dày, biên độ hoạt động của cơ bắp tăng, phạm vi hoạt động so với lúc b́nh thường tăng gấp 3, 4 lần, làm thay đổi áp lực trong phần bụng.

Sự thay đối mang tính chu kỳ trong khoang bụng với nội tạng cũng có tác dụng như xoa bóp, thúc đẩy hoạt động của ruột và dạ dày, thay đổi công năng tiêu hóa và hấp thụ. V́ thế, sau khi luyện công cần tiến hành thở bụng, ăn uống nhiều, thể lực cũng tăng theo.

  -----o0o----- 

Tiết 8 : ĐIỀU TỨC THƯỢNG THỪA

 

Chỉ những người đă kinh qua việc luyện công một thời gian, quen với cách thổ nạp sâu bằng bụng theo phép thổ nạp nghịch bụng th́ mới nên áp dụng.

  1. Phép đại hô, đại hấp :

Đây là 1 phương pháp thổ nạp có biên độ tương đối lớn, trong phép thổ nạp cổ đại có ghi chép lại, ngày nay không dùng nhiều.

Phương pháp là dùng mũi để hít vào mạnh và thở ra mạnh, hoặc là dùng mũi hít vào, dùng miệng thở ra, mỗi lần thổ nạp yêu cầu cố gắng kéo dài thời gian và yêu cầu mỗi lần thở ra hít vào có tiếng to, trong môi trường yên tĩnh, cách xa có thể nghe thấy.

Cách luyện thổ nạp như vậy cần chọn nơi không khí trong lành, tiếng động nên từ bé đến to. Có người nghiên cứu cho rằng có thể giảm thấp lưu lượng máu năo, từ đó có tác dụng ức chế chấn tĩnh. Bản môn cho rằng, thổ nạp mạnh có thể làm tăng biên độ hoạt động lên xuống của hoành cách mô, lượng hoạt động của phổi tăng, có tác dụng nhất định tăng cường thể chất và điều động nội khí.

2. Phép thổ nạp đ́nh bế :

Đây là 1 phương pháp thổ nạp dựa trên cơ sở thở bụng, có một khoảng thời gian ngừng không hít vào, không thở ra, cụ thể chia thành 2 loại :

- Phép hít vào - ngừng - thở ra : sau khi hít vào dần ngừng lại, lại thở ra.

- Phép hít vào - thở ra - ngừng : sau khi hít vào thở ra ngay, lại ngừng nghỉ một lúc.

Ngoài ra, giữa lúc hít vào hoặc giữa lúc thở ra, hoặc đồng thời kéo dài thời gian hít vào thở ra, lại phối hợp ngừng thở, có thể diễn biến thành phép thổ nạp đ́nh bế. Người ta c̣n phát hiện, khi hô hấp đ́nh bế có thể nâng cao biên độ lưu chảy của máu năo, có tác dụng “ôn bổ” cho cơ thể.

3. Phép thổ nạp phối hợp với động tác thân thể :

Chủ yếu gồm các phép :

- Thổ nạp nâng hậu môn : là thổ nạp phối hợp nâng hậu môn, khi hít vào hơi dụng ư nâng hội âm, khiến cho cơ xung quanh hậu môn co lại, khi thở ra thả lỏng co xung quanh hậu môn, phần hội âm tự nhiên thả lỏng. Cách này thích hợp người khí hư.

- Thổ nạp co dương vật : chỉ hợp với nam giới. Khi hít vào cơ bụng dưới co lại, dương vật co lên, khi thở ra thả lỏng cơ bắp, khiến cho dương vật thả lỏng tự nhiên, có tác dụng hoàn tinh kiện năo, khỏe thân. Cách này hiệu quả trị các bệnh di tinh, liệt dương.

- Thổ nạp bám ngón chân : khi hít vào ngón chân dùng lực bám vào đất, khi thở ra th́ buông ra. Cách này có thể làm ổn cố thân dưới, luyện lực chân.

- Thổ nạp động lưỡi : khi thổ nạp với động tác lên xuống của thân lưỡi, khi hít vào đầu lưỡi chạm hàm ếch, khi thở ra buông xuống tự nhiên. Cách thổ nạp này có tác dụng yên tĩnh tư tưởng, chân khí thông hành.

- Thổ nạp h́nh động : phối hợp với một số động tác của cơ thể tiến hành thổ nạp, thường gặp cách hít vào - thở ra và cách hít vào - hít vào - thở ra. Cách thứ nhất : động tác đầu tiên là hít vào, động tác c̣n lại là thở ra. Cách sau thực hiện động tác thứ nhất gồm 2 lần hít vào ngắn, động tác c̣n lại là thở ra. Hai cách này thường dùng trong tân khí công luyện pháp và khí công tự khống liệu pháp, cho rằng cơ thể có thể tăng cường khả năng miễn dịch.

  4. Phép thổ nạp kết hợp luyện ư :

Phương pháp rất nhiều, song bản môn chỉ chú trọng các loại sau :

- Thổ nạp thả lỏng : khi hít vào ư thủ một bộ phận nào đó, khi thở ra nghĩ thả lỏng chỗ đó. Tham khảo thêm “phép thả lỏng”.

- Thổ nạp mặc niệm : khi thổ nạp kết hợp mặc niệm câu chữ nào đó, như “thân thể khỏe mạnh”, “nội khí sung măn”. Tham khảo “Lục Tự Quyết công pháp”

- Thổ nạp đan điền : dụng ư lĩnh khứ. Khi hít vào ư thủ khí hải từ đan điền chảy về hội âm, hơi ngừng thở để thở ra, rồi từ hội âm qua mệnh môn để về khí hải, hết ṿng làm lại từ đầu.

- Thổ nạp tiếp nối : trên cơ sở luyện thở sâu, khi hít vào ư thủ đan điền, khi thở ra đem chân khí dẫn đến mắt cá chân. Cách này được đạo gia chú trọng.

- Ngừng thổ nạp : dựa trên ranh giới cao thấp trong điều luyện hơi thở để tiến nhập vào giới đoạn “tâm tức tương y”. Trong thời gian đó, dù có thở vô ư hay cố ư th́ hơi thở vẫn nhẹ và sâu, như có như không.

5. Các phép điều tức đặc thù :

Qua quá tŕnh tập luyện lâu dài, đă xuất hiện một số phép điều tức đặc thù, ví như :

- Quy tức : khi thở phần bụng dưới hơi phập phồng, xuất hiện trong t́nh huống đang thở đều đặn, dường như không thở, giống như con rùa thở nhẹ nhàng.

- Thai tức : khi hít vào rất nhẹ, bụng dường như không động đậy. Dường như không thở bằng miệng, mũi mà bằng rốn.

- Hầu tức : trong giây lát khí từ hầu xuống thẳng đan điền, bụng dưới lập tức gồ lên. Đây chính là công phu thượng thừa trong vơ lâm.

  -----o0o-----

  Tiết 9 : ĐIỀU TÂM

 

 

 

 

 

  

 


 


 

 

Home ] Up ]

Send mail to Giang_Hoai_Ngoc@yahoo.com with questions or comments about this web site.
Copyright © 2006 Van Duc Cung
Last modified: December 24, 2007