|
“Quán
chủ Bốc Tử Quán đương nhiên là lăo
Bốc mỗ, tiểu hiệu Bốc Toán Tử, xin
gửi lời chào mừng khách quan đă bớt chút
thời giờ quang lâm bản quán. Chúc khách quan vạn
sự thắng ư, tứ quư b́nh an, sinh ư hưng long
khắp bốn biển, tài nguyên mậu thịnh tới ba
sông, đường tài lộc vững như non Thái,
đường phước duyên sánh tợ sông Ngân, măn
niên tài bảo đổ về nhà, tứ quư gặp toàn
điều đại cát, …
Đáng
tiếc phép lấy quẻ của lăo Bốc mỗ là do
gia truyền, và bởi thời gian cùng nạn binh hỏa,
do mệnh trời mà bí phổ đă mất b́a và rách nát,
lăo Bốc mỗ không biết gọi là chi, nguồn
gốc xuất xứ, chỉ biết là bản năm 1958,
may mà c̣n tạm đọc được.”
-
Bốc Toán Tử -
Mục lục :
(liên
hệ để lấy số Tử Vi miễn phí)
.©.
(cần
đầy đủ ngày
tháng năm sinh
và giờ
sinh)
I.
Sơ lược :
Phép
lấy lá số một người thường theo hai cách
:
Xem
vận hạng bằng “Tam Tông Miếu” : đây là cách
đơn giản nhất, không
cần phải nghiên cứu Tử Vi. Sách “Tam Tông
Miếu” được biên soạn sẵn cho các lá
số, bán rất nhiều vào mỗi dịp tết, giá
thị trường khoảng 2000 đ/quyển. Do lấy
số theo năm sinh và chung cho tất cả mọi người
nên tính chính xác không được bảo đảm. Ví
như những người sinh cùng năm 1980 đều có
cùng một lá số, vận hạng giống nhau.
Lấy
số Tử Vi bằng phép gieo quẻ : thường có các
phép gieo quẻ
-
Quy
bốc
: phép bói cổ, c̣n gọi là quẻ mai rùa. Bốc sư
hơ nóng mai rùa trên lửa, sau đó dựa vào những
đường nứt trên mai rùa mà đoán quẻ
-
Thảo
bốc
: phép bói cổ, c̣n gọi là bói cỏ thi. Bốc sư dùng
cỏ thi sau mười tám lần biến đổi
lập nên tượng quẻ
-
Tiền
bốc
: c̣n gọi là quẻ âm dương. Bốc sư dùng ba
đồng tiền cổ gieo 6 lần để lập tượng
quẻ, lấy số âm dương
-
Lập
quẻ theo “Bát Tự Niên Canh”
: bát tự là Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn,
Đoài. Từ năm sinh tính Bát Tự Niên Canh, sau đó
lập quẻ, tính số. “Tam Tông Miếu” lấy
số theo cách này
-
Lập
quẻ theo “Tứ Trụ”
: tứ trụ gồm ngày tháng năm sinh và giờ sinh,
lấy quẻ rất phức tạp, song khá chính xác.
Nếu kết hợp thêm vận hạng của phụ
mẫu hương lân th́ càng chính xác hơn. Bản quán
lấy số theo phép này
#
Cỏ thi :
là loại cỏ chỉ thấy mọc ở trước
mộ Phục Hy ở huyện Hoài Dương tỉnh Hà
Nam xứ Tàu. Diện tích vùng cỏ mọc khoảng
nửa mẫu, hàng mấy ngh́n năm nay chỉ cắt
đi chứ không cần trồng lại, trồng chỗ
khác th́ chết, được xem là linh thảo, là
loại cỏ hiếm quư
II.
Ngày tháng năm theo âm dương lịch :
Lấy
quẻ theo Bát Tự Niên Canh phải dùng âm dương
lịch, gọi nôm na là lịch ta, thường sử
dụng lịch Vạn niên để đổi dương
lịch sang âm dương lịch.
Cổ
lịch chọn Địa Chi của tháng Giêng là Dần,
cứ thế đến tháng Chạp là Sửu. C̣n
phối với Thiên Can th́ bắt đầu từ tháng Giáp
Dần đi lần đến tháng 11 là tháng Giáp Tư, tháng
chạp là Ất Sửu, qua tháng Giêng năm sau là Bính
Dần
Đối
với giờ th́ bắt đầu từ 11 giờ đêm
là đầu giờ Tư, đến 12 giờ khuya là chính Tư,
1 giờ là cuối giờ Tư (đầu giờ Sửu),
… đến 12 giờ trưa là chính Ngọ. Cứ
thế 1 canh giờ bằng 2 giờ Tây phương
Ngày
tháng năm đều lấy hai chữ Can Chi mà đặt
khởi từ năm Giáp Tư rồi cũng chuyển
lần đi, cứ 10 năm là 1 giáp, nghĩa là trải
suốt 10 can qua năm thứ 11 là Giáp Thân. Trải qua 6 giáp
tới năm 60 là Quư Hợi th́ qua năm 61 trở
lại Giáp Tư (thường gọi là Giáp Tư chu niên)
#
Phép đơn giản hoán đổi năm dương
lịch và năm âm lịch :
- Đổi năm dương lịch
ra Can Chi : tên mỗi Thiên Can ứng với hàng đơn
vị của năm dương lịch theo bảng sau
|
0
|
1
|
2
|
3
|
4
|
5
|
6
|
7
|
8
|
9
|
|
canh
|
tân
|
nhâm
|
quư
|
giáp
|
ất
|
bính
|
đinh
|
mậu
|
kỷ
|
Ví
dụ : năm 1915, 1925, … có hàng đơn vị là 5 th́
tên âm lịch có can Ất
- Khi chia năm dương lịch cho số
12 ta được các số dư từ 1 đến 11.
Mỗi số dư ứng với 1 trong 12 Địa Chi
theo bảng sau
|
0
|
1
|
2
|
3
|
4
|
5
|
6
|
7
|
8
|
9
|
10
|
11
|
|
thân
|
dậu
|
tuất
|
hợi
|
tư
|
sửu
|
dần
|
măo
|
th́n
|
tỵ
|
ngọ
|
Mùi
|
Ví
dụ : năm 1925. Lấy 1925 : 12 = 160 dư 5. Tra bảng ta
được chữ Sửu. Vậy năm 1925 là Ất
Sửu
III.
Nhị thập tứ
tiết (hai mươi bốn tiết khí) :
Cổ
lịch định rằng :
-
tháng giêng : tiết Lập
Xuân,
tiết Vũ
Thủy
-
tháng hai : tiết Kinh
Trập,
tiết Xuân
Phân
-
tháng ba : tiết Thanh
Minh,
tiết Cốc
Vũ
-
tháng tư : tiết Lập
Hạ,
tiết Tiểu
Măn
-
tháng năm : tiết Mang
Chủng, tiết
Hạ Chí
-
tháng sáu : tiết Tiểu
Thử,
tiết Đại
Thử
-
tháng bảy : tiết Lập
Thu,
tiết Xử
Thử
-
tháng tám : tiết Bạch
Lộ,
tiết Thu
Phân
-
tháng chín : tiết Hàn
Lộ,
tiết Sương
Giáng
-
tháng mười : tiết Lập
Đông,
tiết Tiểu
Tuyết
-
tháng mười một : tiết Đại
Tuyết,
tiết Đông
Chí
-
tháng mười hai : tiết Tiểu
Hàn,
tiết Đại
Hàn
Cứ
15 ngày là 1 tiết, lúc ban sơ th́ như vậy, sau v́ có
tháng thiếu tháng nhuận mà biến đi. Có năm
tiết Lập Xuân nằm trong cuối tháng chạp năm
trước, các tiết cũng lần lần xê dịch,
cứ trải qua 4 năm lại hườn như trước
IV.
Vài câu ca dao, tục ngữ về
thời tiết :
Sáng
sớm nhền nhện giăng tơ
Ngày
ấy nắng tạnh chẳng mưa được nào
Sáng
sớm nhền nhện nằm im
Ngày
ấy mưa gió tưng bưừg chớ lo
Cỏ
chỉ mọc lan trắng ngần
Dẫu
trời đương hạn rỉ mưa dầm dề
Chớp
đêm nhay nháy gà gáy th́ mưa
Gió
mai hiu hiu diều kêu th́ rét
Mưa
chẳng qua Ngọ gió chẳng qua Mùi
Sáng
ngày gió mai, sáng quay gió nồm
Trăng
quầng trời hạn, trăng tán trời mưa
V.
Xem thời tiết để biết mùa màng tốt hay
xấu :
Ngẫm
xem mùng một đầu năm
Trời
mù mù tối, tuyết đầm đầm bay
Được
mùa triệu chứng tỏ bày
Ngày
Lập Xuân lạnh, cấy cày nhẹ công
Tháng
hai nổi sóng đùng đùng
Gạo
hơn thóc rẻ ăn đong lo ǵ
Xuân
Phân mưa tạnh ít khi
Có
ba ngày Măo quả th́ chín sai
Tháng
ba mùng một mưa tai
Thiên
tai dịch bệnh mọi người sợ kinh
Gió
nam trong buổi Thanh Minh
Được
mùa màng thỏa tấm t́nh nhà nông
Tiết
Lập Hạ có gió Đông
Ít
khi tật bệnh nhiễm trong thân người
Mùng
tám tạnh, hoa quả sai
Canh
Th́n, Giáp Tư sấm thời lúa sâu
Mưa
ngày Đoan Ngọ cũng mầu
Sấm
ngày Mang hiện, phong thâu mùa màng
Hạ
Chí gió tây bắc sang
Rau
dưa bị nắng như lang héo tàn
Trong
ba ngày Phục(1)
nóng ran
Ba
Đông sương tuyết, chứa chan lạnh lùng
Lúa
không kết hạt đâm bông
Mưa
ngày Hạ Chí niên phong cũng mừng
Lập
Thu mưa gió tưng bừng
Thanh
bông hoa quả được chừng nửa thôi
Xử
Thử không mưa than ôi
Ví
bằng kết quả ắt thời rụng đi
Thu
Phân mây trắng tứ bề
May
mắn lúa muộn dân quê reo mừng
Ví
bằng mưa sấm tưng bừng
Sang
Đông gạo kém xiết chừng nao nao
Mùng
một tháng chín sương gieo
Ngày
mùng chín tạnh, Đông nào c̣n mưa
Mặt
trời đỏ bịnh dây dưa
Sấm
trong tháng chín gạo vừa giá cao
Lập
Đông ngày Nhâm lo sao
Sang
năm những lúa ruộng cao nhọc nhằn
Gặp
ngày Nhâm Tư hăi hùng
Tai
thương tật bệnh, buộc ḷng người lo
Mười
một mùng một tính cho
Gió
Tây trộm giặc, tuyết mù đậu ma
Đông
chí tạnh, bóng ác nḥa
Sang
năm hẳn hát khúc ca thanh b́nh
Mùng
một tháng chạp cho tinh
Gió
Đông lục súc xem t́nh tổn thương
Tuyết
th́ đại hạn rơ ràng
Nhược
bằng tạnh tẻ mùa màng phong thu
#
(1) Ba ngày Phục là Sơ Phục, Trung Phục và Mạt
Phục
VI.
Bát Tự Niên Canh :
Càn
Cung sinh nhằm các năm
: 2003, 1994, 1987, 1981, 1966, 1960, 1948, 1943, 1934, 1927, 1921, 1906, 1900
Khảm
Cung sinh nhằm các năm
: 1998, 1991, 1986, 1976, 1970, 1955, 1952, 1938, 1931, 1926, 1916, 1910, 1895,
1892
Cấn
Cung sinh nhằm các năm
: 2007, 1996, 1989, 1983, 1974, 1968, 1962, 1959, 1950, 1947, 1936, 1929, 1923,
1914, 1908, 1902, 1899, 1890
Chấn
Cung sinh nhằm các năm
: 2005, 2000, 1993, 1984, 1978, 1972, 1957, 1945, 1940, 1933, 1924, 1918, 1912,
1897
Tốn
Cung sinh nhằm các năm
: 2006, 2001, 1985, 1979, 1973, 1964, 1958, 1946, 1941, 1925, 1919, 1913, 1904,
1898
Ly
Cung sinh nhằm các năm
: 2002, 1997, 1990, 1975, 1969, 1963, 1954, 1951, 1942, 1937, 1930, 1915, 1909,
1903, 1894, 1891
Khôn
Cung sinh nhằm các năm
: 2004, 1999, 1992, 1980, 1977, 1971, 1956, 1953, 1944, 1939, 1932, 1920, 1917,
1911, 1896, 1893
Đoài
Cung sinh nhằm các năm
: 1995, 1988, 1982, 1967, 1965, 1961, 1949, 1935, 1928, 1922, 1907, 1905, 1901
Càn
Cung chi thiệu
Cung
Càn số này thuộc Kim
Người
có nghề nghiệp tinh chuyên đủ điều
Hướng
sanh cho thuận mới bền
Thiền
thời địa lợi làm nên nhân ḥa
Cửa
cái tây bắc ngó ra
Bốn
phương thuận tiện làm ăn vững bền
Số
này sau có đất điền
Tha
phương tự lập chẳng nhờ đệ huynh
Xét
xem căn số nợ duyên
Trai
thay đổi vợ, gái th́ truân chuyên
Tuổi
nhỏ đau ốm liên miên
Lắm
lần tai ách tưởng chầu Diêm vương
Số
này trường thọ sống lâu
Khi
già con cháu pḥ quan linh đ́nh
Có
nhạc trống đến đưa linh
Bát
âm độ dẫn hồn về Tây phương.
Khảm
Cung chi thiệu
Cung
Khảm hướng Bắc hướng sanh
Cửa
cái đúng hướng thuận ḥa làm nên
Số
này thuộc thể tánh hiền
Ư
ḥa trí sáng tánh t́nh hiền lương
Ăn
ở thuận ư hương lân
Chẳng
hay tranh căi, chẳng hề tham lam
Xét
xem căn số nợ duyên
T́nh
đầu lỡ dỡ, hiệp ḥa duyên sau
Đến
đâu cũng gặp bạn lành
Đỡ
nâng mọi việc lập thân xứ người
Tuổi
này trường thọ niên cao
Khi
thác con cháu đón đưa linh đ́nh
Có
nhạc trống đến đưa linh
Có
sư phổ độ hồn về Tây phương
Số
thọ sáu mốt mà thôi
Ăn
ở hiền đức sống ngoài bảy mươi
Cấn
Cung chi thiệu
Cung
Cấn số này luận ra
Cung
này thuộc Thổ, Đông Bắc hướng sanh
Số
này xuất ngoại làm nên
V́
có nghệ thuật tinh chuyên hơn người
Đến
đâu cũng được yêu v́
Làm
ăn mọi việc chỉ nhờ người dưng
Căn
duyên chồng vợ thuận ḥa
Con
cái có ít gia đ́nh yên vui
Số
gái cũng được sum vinh
Có
chồng quyền quư môn đ́nh được an
Số
thọ ghi bảy mươi ba
Khi
thác cũng được họ hàng đưa đông
Có
nhạc trống, có sư tăng
Tụng
kinh phổ độ hồn về Tây phương
Khá
nên tích thiện tu thân
Ngày
sau con cháu hưởng nhờ phước dư
Chấn
Cung chi thiệu
Cung
Chấn thuộc Mộc chánh Đông
Người
sanh cung ấy sáng thông ai b́
Cửa
cái trời mọc là hay
Làm
nên sự nghiệp, an khương gia đ́nh
Số
này cũng lắm gian truân
Tha
phương lắm nổi phong sương hải trần
Cung
mạng lỡ dỡ duyên đầu
Duyên
sau chắp nối thuận ḥa yên vui
Số
gái cũng số thanh cao
Có
chồng quyền tước dự hàng công khanh
Của,
con sẵn có tuổi già
Khi
ra phong nhă khi vào hào hoa
Số
thọ ghi sáu mươi ba
Tu
nhân tích đức sống ngoài bảy mươi
Cháu
con đưa đám đủ ḍng
Ḥa
thượng dẫn lộ, đèn nhang độ hồn
Cung
Chấn thuộc Mộc số này
Mộc
th́ khắc Thổ chết vào tháng Năm
Tốn
Cung chi thiệu
Cung
Tốn thuộc hướng đông nam
Sinh
khí chánh bắc thuận ḥa b́nh an
Số
này tuổi nhỏ gian nan
Lắm
lần tai ách được an nhờ trời
Tánh
nóng dạ sáng khôn ngoan
Chiêm
bao cũng trúng, nghi ngờ cũng y
Thiếu
niên lắm lúc gian nguy
Tơ
duyên trá chác e khi đổi dời
Trở
về tuổi lớn gặp thời
Làm
ăn thịnh vượng, môn đ́nh an khương
Cung
này cũng được thọ trường
Số
trên bảy chục hồn về Tây phương
Bốn
người con cháu khóc thương
Có
nhạc trống phách, hương lân ngậm ngùi
Ḥa
thượng dẫn lộ độ vong
Theo
sách sổ chép chết vào mùa Đông
Ly
Cung chi thiệu
Cung
Ly chánh hướng đông nam
Ai
nhằm cung ấy tánh người nóng thay
Số
này khó nuôi con trai
Quá
hân bốn tuổi lớn lên thành người
Số
gái cũng lắm truân chuyên
Nợ
duyên lắm lúc long đong thảm sầu
Căn
số trời định vậy thời
Trai
thay đổi vợ, gái thời lao đao
Tuổi
thơ chẳng được phỉ nguyền
Tuổi
già hưng thịnh môn đ́nh sum vinh
Cho
hay phận số tự trời
Gian
nan lúc nhỏ ḥa vui tuổi già
Số
này sống sáu mươi ba
Ăn
ở hiền đức sống ngoài bảy mươi
Khi
thác gặp tiết Đông Thiên
Con
cháu đưa đón cảm thông vô hồi
Có
cổ nhạc có sư tăng
Tụng
kinh phổ đổ hồn về Tây phương
Khôn
Cung chi thiệu
Cung
Khôn thuộc hướng đông nam
Người
sanh cung ấy lắm lần tân toan
Số
này tuổi nhỏ không yên
Đôi
ba lần khá có rồi lại tan
Số
trai vợ đôi vợ ba
Số
gái duyên phận vui buồn chiều mai
Trung
niên an phận ḥa hài
Cách
nhà xa xứ ra ngoài lập thân
Sớm
khuya lo liệu ân cần
Chồng
ḥa vợ thuận cháu con sum vầy
Số
người hậu vận làm nên
V́
trước đă có cây lành trồng sâu
Đại
số sáu mươi mà thôi
Có
căn tu niệm sống ngoài bảy mươi
Khi
thác con cháu đủ đông
Có
sư phổ độ trống kèn lung tung
Đoài
Cung chi thiệu
Cung
Đoài thuộc Kim chánh tây
Người
sanh cung ấy số sau thanh nhàn
Tuổi
thơ lắm lúc tai nàn
Nhờ
có hồng phúc nạn nào cũng qua
Đệ
huynh nghịch ư ở xa
Tha
phương lập nghiệp làm ra của tiền
Vợ
chồng lỡ dỡ nhiều phen
Khi
tan khi hiệp đôi lần mới nên
Số
này cũng khó nuôi con
Chừng
một hai đứa dắt d́u tuổi cao
Tuổi
thọ được sáu mươi ba
Có
làm ân đức sống ngoài bảy mươi
Khi
cất đám được rỡ ràng
Ḥa
thượng cổ nhạc láng giềng đưa đông
Cung
Kim khắc hỏa rơ ràng
Chết
vào mùa Hạ Thiên tào sổ ghi
VII.
Ngũ Hành sinh khắc :
Ngũ
Hành tương sinh
Kim
sinh Thủy
Thủy
sinh Mộc
Mộc
sinh Hỏa
Hỏa
sinh Thổ
Thổ
sinh Kim
Ngũ
Hành tương khắc
Kim
khắc Mộc
Mộc
khắc Thổ
Thổ
khắc Thủy
Thủy
khắc Hỏa
Hỏa
khắc Kim
#
Có câu “lưỡng
mộc thành lâm”,
“lưỡng
thổ thành sơn”,
nhưng phải đồng một loại mới
được, như “Đại Lâm Mộc” cùng “Đại
Lâm Mộc”, hay “Thiên Thượng Hỏa” cùng “Thiên
Thượng Hỏa” mới đặng tốt
Muốn
biết ḿnh mạng ǵ mà không biết cách tính th́ có
thể xem trong “Tam Tông Miếu” hoặc liên hệ
với lăo Bốc mỗ (đường dẫn có ở
đầu và cuối trang này)
VIII.
Hoàng đạo kiết nhật – Quan hôn tang tế :
Ngày
tốt cưới gả
: Lục hạp, Dương đức, Lục nghi,
Thục thế, Thiên Bửu, Kim quỷ, Thiên đối,
Thiên đức, Thiên ngọc, Ngọc đường, Minh
tinh
Hoàng
đạo kiết nhật :
Thiên hỷ, Thiên phú, Thiên quư, Thiên xá, Thiên phước,
Thiên thành, Thiên quan, Thiên ư
Ngày
tốt dựng nhà :
Phước sanh, Phước hậu, Kiết khánh, Âm đức,
Giải thân, Sanh khí, Phổ hộ, Ích hậu
#
Ngày
ngày xấu kỵ cưới gả :
Quy kỵ, Nguyệt yểm, Sát ông, Nguyệt đối, Sát
cô, Thiên tặc, Nguyệt phá, Thọ tử, Thiên hỏa,
Địa hỏa
Ngọc
Hạp Thư
viết :
Âm
tương nữ tử
Dương
tương nam vong
Âm
dương cụ tương
Nam
nữ tịnh thương
Âm
dương bất tương
Nảy
đắc kiết xương
IX.
Lấy số Tử Vi :
Phép
lấy số Tử Vi rất phức tạp, và cũng là
gia truyền, nên khó giải tŕnh tường tận.
Nếu muốn lấy số Tử Vi, hăy liên hệ
Giang_Hoai_Ngoc@yahoo.com
với
đầy đủ ngày tháng năm sinh và giờ sinh (có
thể theo lịch tây, lăo Bốc mỗ sẽ chuyển
sang âm dương lịch), sẽ được xem
miễn phí.
#
Thỉnh thoảng lăo Bốc mỗ lại nghe những
thắc mắc, đại khái là : trong cùng một giờ,
một ngày, một tháng, một năm có hàng vạn
vạn người sinh ra, không lẽ cuộc đời
họ cũng giống nhau ư ?
Điều
ấy đă chép ngay phần đầu của “Tử Vi
Kinh”, trong bài phú “Tử Vi
cốt tủy” như sau :
“Phú,
thọ, quư, vinh, yểu, bần, ai, khổ,
Do
ư phúc trạch cát hung.
Thương,
tang, h́nh, khổn, hạnh, lạc, hỉ, hoan,
Thị
tại vận hành hung cát.”
Ch́a
khóa của khoa Tử Vi là do câu trên. Khi xem số Tử
Vi, thông thường tín nam, tín nữ chỉ chú ư đến
những cung Mệnh, Tài, Quan cùng vận hạn. Ít người
chú ư đến cung Phúc cũng như cung Tật Ách.
Thật
ra, cung Phúc rất quan trọng. Nó ảnh hưởng đến
ba cung Phu Thê, Tài Bạch, Thiên Di là lẽ đương
nhiên. Nó gần như khống chế toàn cuộc đời
về : giàu nghèo, thọ yểu, sang hèn, vinh nhục,
sầu thảm và khổ cực. Tùy theo cung Phúc tốt hay
xấu mà biết đương số giàu hay nghèo,
sống thọ hay chết yểu, sang hay hèn, cuộc đời
bi ai hay toại chí, đắc thế, …
Cung
Phúc bao gồm nhiều yếu tố cuộc đời. Mà
cung Phúc chủ yếu ứng vào ngôi mộ mà
đương số được hưởng phúc. Ngoài
ra cung Phúc c̣n chịu ảnh hưởng của âm đức
tích được hồi tiền kiếp của
đương số, âm đức của phụ mẫu,
huynh đệ, thê tài, … Và nếu tại đương
kiếp tích được nhiều âm đức th́ cung
Phúc giải được những khắc phá (nếu có)
để trở nên tốt hơn.
Như
vậy, những người cùng số, có cuộc đời
hao hao giống nhau, nhưng tùy theo cung Phúc mà phú, thọ,
quư, vinh, yểu, bần, ai, khổ khác nhau.
#
Như số những người chết cùng một lúc
như chiến tranh, thiên tai, đắm thuyền, … Không
lẽ số những người đó đều đến
ngày ly thế cả hay sao ?
Hoặc
câu hỏi khác. Vận số của một người
vốn là trường thọ, sống đến ngoài
bảy mươi. Tại sao chỉ mới ngoài hai mươi
là đă gặp tai nạn mà chết ?
Thật
ra mấy vấn đề trên, trong bài phú “Tử
Vi cốt tủy” cũng có
đề cập, tạm dịch như sau :
“Vận
con phải thua vận cha,
Vận
người không bằng vận nhà,
Vận
nhà không bằng vận làng,
Vận
làng không bằng vận châu,
Vận
châu không bằng vận nước,
Vận
nước không bằng vận thiên hạ.”
Do
đó, ví như hai đứa trẻ cùng số, nhưng
thời ấu thơ sống với phụ mẫu, vận
số phải chịu
ảnh hưởng bởi vận số của phụ
mẫu. Nếu phụ mẫu giàu sang, th́ dù số đứa
trẻ xấu vẫn được ấm no. C̣n như
phụ mẫu cô bần, th́ dù số đứa trẻ
tốt vẫn phải chịu cảnh cơ hàn. Đó là
“vận con phải thua vận cha”.
Rộng
hơn chút nữa, một người ở trong làng, dù
số tốt hay xấu cũng phải chịu chung số
phận của cả làng. Tỷ như hai người cùng
có số giàu. Một người sống trong làng giàu, th́
của cải súc tích. C̣n người sống trong làng khó,
th́ chỉ giàu so với người trong làng, nghĩa là
kha khá vậy thôi.
Rộng
hơn nữa, một châu không có người chết, nhưng
vận nước có binh ách, châu cũng chịu chung
số phận, ắt có nhiều người chết.
Một
ví dụ khác, khi người ta đi cùng thuyền, cũng
giống như ở cùng làng, nếu hơn phân nửa người
trong thuyền tận số th́ thuyền đắm. Số
c̣n lại bị chết oan theo. Trường hợp này
gọi là “uổng tử”. Những người chết
oan theo dạng này rất tội, hồn oan vất vưởng
nơi cơi thế, trở thành “uổng tử quỷ”,
không được đi đầu thai ngay mà phải
chờ đến khi đúng số mới được
nhập âm tào.
Tuy
vậy, nếu như đương số có nhiều âm
đức, hoặc được phúc tinh chiếu
mệnh, quư nhân pḥ trợ th́ không đến nỗi
chết oan, bất quá hao tài tán của vậy thôi.
XI.
Lá số tiêu biểu :
é男子û
- Sinh niên[生年] : 1991
- Sinh nguyệt [生月]: 12
- Sinh nhật [生日] : 25
- Sinh thời [生時] : văn Dần
(4 – 5 giờ khuya)
Đối sang ngày âm lịch : (thứ tư), văn Dần
[晚寅時],
ngày 20 (ngày Kỷ Tỵ [己巳日]),
tháng 11 (tháng Canh Tư [庚子月]),
năm Tân Mùi [辛未年].
Thiệu đầu :
Luận theo đương số mạng này
Tuổi cùng với mạng hiệp ḥa tương sanh
“Dê được lộc”
[得祿羊]
ắt số cao.
Sống lâu hưởng phước miên miên cửu trường
#得祿羊
: đắc lộc dương (dê được lộc)
Cung
- Mạng - Tướng tinh :
- Cung : Khảm
- Mạng : Lộ Bàng Thổ
- Cầm tinh : con dê
- Tướng tinh : con gấu
- Chủ tinh : Thái Âm
- Con nhà Huỳnh Đế [黃帝宮]
Phân lượng toán thuật :
- 辛未年
: 80 phân
- 庚子月(十一月)
: 90 phân
- 己巳日(二十日)
: 1 lượng 50 phân
- 晚寅時
:
70 phân
Tổng cộng : 3 lượng
90 phân
Luận giải : mạng này (e hèm) … vật cùng tất biến, nhân
cùng tất phản. Mạng này tốt thời cực tốt, xấu thời cực xấu. Chỉ mong âm
đức tổ tiên đủ bảo hộ an nhàn qua thời tiền vận. Hậu vận không lo.
Cực xấu : trọn đời
mạng vận chẳng đặng thông đạt bất cứ sự ǵ, làm việc ǵ rồi cũng hư, khổ tâm
kiệt lực dựng nên gia thế huy hoàng nhưng sau này chỉ qua một đêm đă tan
theo giấc mộng về cơi hư vô.
Cực tốt : cung mạng
thong thả an nhàn, phàm sự chi được mất đều do người mang tới. Mệnh lộ thênh
thang, hành lộ gian nan, hay suy nghĩ lo toan. Tới lúc tuổi già được ngôi
tài tinh chiếu mạng nên được thanh nhàn.
Chủ tinh Thái Âm, là kiết tinh,
đàn ông việc chi cũng đặng vừa ư, cầu danh đặng danh, cầu tài đặng tài.
Ăn nói nên lựa lời, nuôi thú vật
bất lợi. Mỗi việc nên mỗi đề pḥng vạn nhất.
Mạng đắc lộc dương, hành thổ, thân
nhàn tâm khổ, là người có chí khí, tánh t́nh đại phương, thuở đầu gặp nhiều
khó khăn, nhưng sẽ dần phát lên, thường sinh con trai, vợ chồng ḥa thuận,
nữ th́ giúp nhà hưng thịnh, nam th́ có sự nghiệp tạo lập gia đ́nh. Trung
niên cầu danh vọng, văn niên cầu tài lợi.
Tánh cách - Sự nghiệp :
Người chịu ảnh hưởng của cung
Huỳnh Đế, ưa chuộng những thứ có tính kim như hoàng kim, châu báu.
Có tánh t́nh hoạt động mănh liệt,
minh mẫn sáng láng, can đảm liều lĩnh, gan dạ phi thường, tranh đấu quyết
liệt, ham đắm lợi danh. Có tánh cương quyết táu tợn, đi đứng lanh lẹ, ham
chỉ huy, ưa vơ nghệ, thích thể thao.
Ít xúc động, trung hậu tử tế, song
lắm khi phẫn nộ đi đến ngang tàng, hành sự hay xốc nổi, ít thiên lư trí.
Phần đông người mang mệnh này không được nhă nhặn, thành thật và có mưu lược.
Tánh cương quyết ít khi thối lui
trước nghịch cảnh, quyết phải làm thế nào cho đạt kỳ sở nguyện mới thôi. Khi
phán đoán th́ trầm tĩnh mà t́m thánh lư.
Tánh t́nh đứng đắn, ưa thích những
việc khó khăn mạo hiểm, thích uống rượu, tín ngưỡng. Tánh t́nh cứng cỏi, tâm
chí thanh cao, làm nhà cách mạng th́ cứng rắn.
Cung Huỳnh Đế hành Thổ, số phận
long đong, thường chịu cảnh cô thân, đơn lẻ, góa bụa, con cái ít, thâm t́nh
lạt lẽo như nước chảy triền sơn.
Thuận sanh mùa đông là quư tướng,
nhằm ban đêm th́ mạng yên ổn. Tuổi và mạng này nữ hay nam đều cao số, tiền
vận ch́m nổi nhiều phen, từ trung niên về già mới đặng hưởng thanh nhàn.
Có chí phấn đấu, làm nhiều công đức, không giàu thời sang, được trường
thọ.
Những nghề thích hợp nhất là : lái
xe hơi, thầu khoán, công nghệ, quân binh. Những người làm ngành ṭa án,
những quan chức thuộc ngạch hành chánh thường chịu ảnh hưởng của mệnh này cả.
Họ rất nghiêm khắc và chẳng dung thứ những kẻ cường bạo, thường giữ tṛn bổn
phận, chuộng chánh lư nhưng chẳng có t́nh cảm.
Thiệu trung :
Tiểu lợi nhược tham
Bất thành đại sự
Tiểu sự bất nhẫn
Tất loạn đại mưu
Lợi bất khả độc
Lợi độc tắc ly
Mưu bất khả chúng
Chúng mưu tắc tiết.
Luận giải :
Nếu như ham lợi nhỏ
Chuyện lớn ắt chẳng thành
Chẳng nhịn việc cỏn con
Mưu to thời phải hỏng.
Lợi chẳng nên hưởng riêng
Hưởng riêng thời ly tán
Mưu chẳng khá bàn chung
Bàn chung thời tiết lộ.
Duyên phận :
- Cưới nam nhi nhà Huỳnh đế : chồng vợ làm ăn đủ dùng, tuy chẳng dư giả
nhưng vợ chồng đặng vĩnh viễn.
- Cưới nam nhi nhà Xích đế : chồng
vợ trước làm ăn trung b́nh, từ trung vận trở lên sẽ đặng phú quư.
- Cưới nam nhi nhà Bạch đế : chồng
vợ đặng giai lăo, nếu sanh con trai đồng ḷng sẽ đặng phú quư.
- Cưới nam nhi nhà Thanh đế :
chồng vợ ăn ở xung khắc, sau rồi cũng phân ly
- Cưới nam nhi nhà Hắc đế : chồng
vợ khắc về mạng, hay tranh căi
Sanh
văn Dần :
Cuối giờ khắc mẹ chẳng hay
Tánh nóng vội vă cũng là khắc thê.
Hào con không hợp nam nhi
Số cao phát muộn để dành hậu lai
Đệ huynh gia đạo sum vinh
Tài hoa lại gặp má hồng yêu đương.
Ngoài tam thập lục công thành
Trở về hậu vận hiển vinh hơn người.
Sanh
tháng Canh Tư :
Bài
thiệu :
Vũ Lăng kiếp trước không tài
Tánh t́nh trầm tĩnh lại hay nghi ngờ
Kiếp này trầm bổng tân toan
Trở về vận cuối mới mong thanh nhàn.
Gian nan lận đận nửa đời
Lấy vợ tương hợp mới nên cửa nhà.
Chờ cho gặp cuộc Hồng Loan
Hiển nhiên phải được yên thân thanh nhàn.
Ẩn Biến :
Bạch Kê
Bài
thiệu :
Hùng Kê có số sang giàu
Công nghệ khéo léo chẳng ai dám b́
Thư kê giỏi việc tề gia
Chuyên bề nội trợ, dạy con ngoan hiền
Hiệp duyên cùng giống linh cầm
Có vàng có ngọc, môn đ́nh sum vinh.
Rừng cao trời rộng vẫy vùng
Tạo điều âm đức cửa nhà an khương
Thanh nhàn nhẹ bước thang mây
Tuổi già an hưởng những ngày lạc quan.
Trực : Trực B́nh
Bài
thiệu :
B́nh - Thủy như nước trong sông
Sóng xao xao đặng th́ ḷng xuyên qua.
Luận xem đương số đoán ra
Thuận nhà ít nói thuận ḥa ngọt ngon
Đàn bà th́ dễ nuôi con
Đàn ông số ấy không giàu thời sang.
Tự ḿnh phấn đấu vươn lên
Mong nhờ phước hạnh thọ trường dài lâu.
Bông sen mọc tận dưới bùn
Khi nở đỏ thắm mùi hương ngạt ngào.
Thập Can
Triết Tự chi thiệu :
Nhân sanh Tân tự biến thành Tan
Tánh khí hiền lương lập nghiệp nan
Phu phụ nhất tâm lưỡng nhân phú
Bằng hữu cự tộc đa vinh quang.
Luận
giải :
Chữ Tân biến thành chữ Tan
Gia đ́nh thuận thảo hương lân thuận ḥa
Hiền lương tánh khí sẵn dành
Tha hương trải lắm phong sương hải tần
Vợ chồng ḥa thuận đủ điều
Khi ra phong nhă khi vào hào hoa
Anh em gia tộc cậy trông
Vinh quang có lắm, hào môn cũng nhiều
Tuổi nhỏ lận đận lao đao
Lớn lên khó nhọc, ít khi an nhàn
Cho hay duyên phận tại trời
Khá làm âm đức phước lành hậu lai
Số nay tuổi trẻ tay không
Lớn lên có của vợ chồng làm nên
Nhiều khi tụ tán như sương
Khi ăn chẳng hết khi th́ tay không
Nếu mà tích thiện tu thân
Ngày sau con cháu miên miên cửu trường.
Những người có chí thiện nhân
Trời dành hậu quả hưởng nhờ phước dư.
Bát Tự
Niên Canh Chi Thiệu :
Cung Khảm hướng Bắc hướng sanh
Cửa cái đúng hướng thuận ḥa làm nên
Số này thuộc thể tánh hiền
Ư ḥa trí sáng tánh t́nh hiền lương
Ăn ở thuận ư hương lân
Chẳng hay tranh căi, chẳng hề tham lam
Xét xem căn số nợ duyên
T́nh đầu lỡ dỡ, hiệp ḥa duyên sau
Đến đâu cũng gặp bạn lành
Đỡ nâng mọi việc lập thân xứ người
Tuổi này trường thọ niên cao
Khi thác con cháu đón đưa linh đ́nh
Có nhạc trống đến đưa linh
Có sư phổ độ hồn về Tây phương
Số thọ sáu mốt mà thôi
Ăn ở hiền đức sống ngoài bảy mươi
Kỵ tuổi (trong
cưới gả) :
- Lục Hại : kỵ tuổi Tư
- Tứ Tuyệt : không kỵ
- Bào thai : kỵ nữ tử sanh tháng 2, tháng 8
- Kỵ nữ tử tuổi mang chữ Đinh
- Khắc nữ tử có mạng Tuyền Trung Thủy
- Thiên can tương hợp : Tân - Bính
- Thiên can khắc phá : Tân phá Đinh
- Hung niên (năm không nên lấy vợ) : Dần
Tóm
lại :
Mạng này (e hèm) … vật cùng tất biến, nhân cùng tất phản. Mạng
này tốt thời cực tốt, xấu thời cực xấu. Chỉ mong âm đức tổ tiên đủ bảo hộ an
nhàn qua thời tiền vận. Hậu vận không lo.
Chủ tinh Thái Âm, là kiết tinh, đàn ông việc chi cũng đặng vừa ư, cầu
danh đặng danh, cầu tài đặng tài.
Ăn nói nên lựa lời, nuôi thú vật bất lợi. Mỗi việc nên mỗi đề pḥng vạn
nhất.
Mạng đắc lộc dương, hành thổ, thân nhàn tâm khổ, là người có chí khí,
tánh t́nh đại phương, thuở đầu gặp nhiều khó khăn, nhưng sẽ dần phát lên, thường
sinh con trai, vợ chồng ḥa thuận, nữ th́ giúp nhà hưng thịnh, nam th́ có sự
nghiệp tạo lập gia đ́nh. Trung niên cầu danh vọng, văn niên cầu tài lợi.
Người chịu ảnh hưởng của cung Huỳnh Đế, ưa chuộng những thứ có tính kim
như hoàng kim, châu báu.
Tánh t́nh đứng đắn, ưa thích những việc khó khăn mạo hiểm, thích uống
rượu, tín ngưỡng. Tánh t́nh cứng cỏi, tâm chí thanh cao, làm nhà cách mạng th́
cứng rắn.
Cung Huỳnh Đế hành Thổ, số phận long đong, thường chịu cảnh cô thân, đơn
lẻ, góa bụa, con cái ít, thâm t́nh lạt lẽo như nước chảy triền sơn.
Thuận sanh mùa đông là quư tướng, nhằm ban đêm th́ mạng yên ổn. Tuổi và
mạng này nữ hay nam đều cao số, tiền vận ch́m nổi nhiều phen, từ trung niên về
già mới đặng hưởng thanh nhàn.
Có chí phấn đấu, làm nhiều công đức, không giàu thời sang, được trường
thọ.
Tuy rằng lúc trẻ đường tài bạch
chưa được như ư, gian truân lận đận, nhưng về già sẽ đặng an nhàn, phước lộc lúc
sau sẽ đặng hơn xưa.
Nên làm nhiều việc thiện để tích âm đức nhằm hóa giải những sự không hay
do nghiệp quả hồi tiền kiếp. Nên thường hành thiện làm điều công đức.
Thiệu
cuối :
Luận xem tuổi nhỏ khó nuôi
Lớn lên mạnh khỏe tài cao hơn người
Thăng trầm thân mạng nổi ch́m
Gian truân lắm độ hiển vinh lắm lần
Nữ nam đều chịu truân chuyên
Tiền vận cực nhọc hậu lai thanh nhàn
Khéo tu th́ phước lại tăng
Để dành mai hậu cháu con sang giàu.
.©.
(liên
hệ lăo Bốc mỗ)
|