This site hosted by Free.ProHosting.com
Google

Tân Tây Vơ Quán

Chào mừng bạn đă đến với chúng tôi

Chúc bạn một ngày an lành


Giang Hoài Ngọc

----------------

Vọng cổ

Index

----------------

Trúc Lâm Cổ Tự

----------------

Tân Tây Vơ Quán

----------------

Bốc Tử Quán

----------------

Đạo Gia Khí Công

----------------

Thiếu Lâm Tự

----------------

Thi Quán

----------------

Y Quán

----------------

Việt Nam Thân Yêu

---------------

Thư Quán :

Truyện kiếm hiệp

Truyện trinh thám

Bách gia tính

---------------

Nhạc Quán :

------------------

.  ©  .

(phản hồi)

Văn Đức Cung

 

Tân Tây Vơ Miếu là 1 ngôi miếu cổ, gắn liền với cộng đồng Minh Hương Sa Đéc. Nay miếu tọa lạc tại trung tâm thị xă, có vị trí thật đẹp, nằm trên đường Lư Thường Kiệt, trước mặt là con rạch Cái Sơn hiền ḥa chảy qua nội ô Sa Đéc.”

 

Khi luyện kiếm pháp, hay đao pháp, điều cần chú ư là tay cầm đao, hoặc kiếm, hướng về đâu th́ mắt phải nh́n theo đó. Đầu không cúi, lưng thẳng, chân và tay không có binh khí phải ở tư thế hợp lư. Tay không cầm kiếm phải luôn luôn đuổi theo kiếm, hoặc dấu sau thân người.

Khi thấy tay không cầm kiếm của đối phương ló ra, vươn ra, hoặc vung lên th́ hăy coi chừng có thể đó là một cách dụ của đối phương. Cánh tay đó khó tránh khỏi bị thương nếu như không được che chở.

Điều quan trọng là phải biết bảo vệ thân thể, nhất là tay không cầm kiếm phải thủ thật kín đáo để tránh bị đối phương chém trúng.

Đẳng cấp :

  • Vơ sinh : nhất đẳng, nhị đẳng, tam đẳng
  • Vơ sĩ : nhất đẳng, nhị đẳng, tam đẳng
  • Vơ sư : nhất đẳng, nhị đẳng, tam đẳng
  • Tôn sư
  • Đại tôn sư

Bí Phổ :

  • Lục Hợp Kiếm Pháp
  • Liên Hoa Kiếm Pháp
  • Mai Hoa Kiếm Pháp
  • Liên Hoa Tâm Pháp

Kinh Huyệt Đồ Phổ :

(xem tại Trúc Lâm Cổ Tự)


Lục Hợp Kiếm Pháp

1. Trường Kiếm Hộ Thiên :

Tay phải cầm kiếm đưa lên vai trái để yểm hộ vai. Tay trái co ngang vai, chân phải làm trụ cho sức nặng toàn thân, chân trái bỏ thành chân Trảo Mă nhẹ ở phía trước.

Kiếm thức này có tác dụng che cho vai trái và thủ phần bên trái.

2. Ẩn Kiếm Mai Phục :

Từ bên trái (thức Trường Kiếm Hộ Thiên) loang kiếm qua bên vai phải rồi hạ kiếm dấu ra sau lưng. Đó là dụng thế kiếm che cho cả hai bên phải và trái, cả trước bụng.

Khi bị tấn công, từ thủ thế này có thể bước lên một bước, phóng kiếm đâm tới theo thế Độc Long Thám Hải.

3. Độc Long Thám Hải :

Từ thế đứng thẳng (thức Ẩn Kiếm Mai Phục) bỏ chân trái rùn xuống. Chân sau duỗi như Đinh Tấn. Tay phải cầm kiếm chém ngược lên rồi đâm thẳng vào đối phương (bên trái). Mặt xoay theo đà kiếm đâm ra.

Tay trái đưa lên ngang phía sau bên trái đầu.

4. Đảo Kiếm Đả Hậu :

Từ thế Độc Long Thám Hải tấn công đối phương thủ trước hai mặt, ta đâm kiếm về phía sau lưng để hạ đối phương từ phía sau tấn công tới.

Bộ pháp vẫn giữ Đinh Tấn, bàn tay trái khép chặt, bỏ thơng xuống sát nách vào đùi trái. Kiếm thọc ngang về phía sau.

5. Độc Hành Thiên Lư Kiếm :

Bước thong thả, hoặc chạy nhanh, ngọn kiếm vẫn hướng lên trời. Tay trái bỏ xuống để che nách trái, bàn tay trái và cổ tay dấu trong người.

Có thể xoay ra sau lưng một bộ và chém ngược kiếm vào đối phương trong lúc xoay.

6. Cô Nhạn Cao Phi :

Hai chân đứng theo bộ Độc Hành Thiên Lư Tấn (như bước đi tự nhiên). Bất thần phóng kiếm nhảy vọt lên cao đâm thẳng vào yết hầu đối phương từ đằng xa.

Lưu ư : chiêu này rất hiểm độc, lại khó sử dụng, nếu đối phương tránh được mà ta không lưu chuyển bộ pháp kịp sẽ mất đà, gặp nguy.

7. Khinh Linh Yển Nguyệt :

Xoay bộ pháp nhẹ nhàng từ trước mặt sang bên trái. Tiến chân trái chồm lên phóng kiếm đâm tới (về hướng trái). Tay trái xoay lại rồi khép vào hông.

Bàn tay trái để dọc theo bắp tay phải, ta có thể phóng cước từ chân sau đá tung vào đối thủ.

8.  Chỉ Địa Tầm Xà :

Xoay người sang bên trái. Mũi kiếm chúc xuống đất. Chân phải trước, chân trái sau, tay trái che ngang trán. Chiêu này dụ đối phương tấn công vào tay trái và mặt, khi đó ta bất thần phóng mũi kiếm ngược lên đâm vào ngực đối phương.

Chiêu này rất hiểm độc.

9. Tiên Ông Chỉ Lộ :

Từ chiêu Chỉ Địa Tầm Xà, sau khi vung kiếm đâm vào ngực đối phương, ta bước sang bộ Đinh Tấn, xoay qua bên trái. Tay phải chỉ kiếm ngóc mũi kiếm lên cao và vươn dài ra. Với thế này nếu đối phương lùi ra th́ ta tiến lên đánh bức đối phương. Như thế gọi là đánh theo đ̣n, dùng để đánh đuổi đối phương khi đối phương quay người lại, hoặc bỏ chạy.

10. Ma Vương Trá Tẩu :

Đối phương đang đuổi nà, người cầm kiếm rê ngọn kiếm ở sau lưng bỏ chạy. Trong lúc chạy, mắt luôn nh́n trước và sau lưng.

Khi đối phương đuổi tới vừa tầm kiếm th́ bước chân sau chéo qua chân trước thành Xà Tấn, đồng thời vung kiếm chém xả ngược ra sau để hạ đối phương bất ngờ.

11. Hàn Tín Dụng Binh :

Khi đối chiêu, đối phương phóng kiếm chém ngang đầu, lập tức rùn người xuống và đâm thẳng vào trung bàn (khoảng gần rốn) đối phương.

Thế thức : thân người rùn xuống như tư thế ngồi, tay cầm đốc kiếm, mũi kiếm đâm thẳng về phía trước, mắt nh́n theo mũi kiếm. Thế này giống như Hàn Tín ngồi trên đài dùng kiếm chỉ huy binh tướng ở dưới.

12. Chấp Kiếm Trừ Địch :

Cặp kiếm vào nách bên trái, nhưng tay vẫn nắm hờ chuôi kiếm. Lúc bất ngờ, chân trái bước tới và chém mạnh lưỡi kiếm từ sau ra trước, từ dưới ṿng lên cao (vớt ngược lên)

13. Quan Âm Chiếu Kính :

Tay trái duỗi thẳng ra trước, bàn tay x̣e ra che mặt (giống tư thế cầm kính soi mặt). Tay phải cầm kiếm, mũi kiếm chỉ xuống đất.

Khi đối phương phóng kiếm chặt vào cổ tay trái, lập tức kéo nhanh tay trái ra sau lưng, đồng thời vung kiếm chém bổ vào vai đối phương.

Thức này cũng có thể áp dụng đối với mũi kiếm đang chỉ lên trời, khi rút tay trái về th́ vung kiếm chém bổ xuống vai đối phương.

14. Dạ Xoa Thám Hải :

Chiêu kiếm này gồm hai biến thức.

- Bước chân phải lên, hai chân chụm lại, kiếm đưa từ dưới lên trên, và từ phải sang phía thân người bên trái, đôi mắt nh́n về bên đối phương ở phía trái.

- Vươn người lên cao, vung kiếm qua đầu, ṿng xuống và hạ là là xuống thấp. Hai chân chụm lại như lúc ban đầu và kiếm chém phạt vào người đối phương ở hạ bộ.

15. Phượng Hoàng Vũ Kiếm :

Vung rộng cả hai tay ra. Tay phải cầm kiếm, tay trái mở chưởng hướng ḷng bàn tay ra ngoài. Chân mở rộng theo Trung B́nh Tấn.

Lúc biến thế, bỏ chân phải chéo qua chân trái, vung kiếm vớt ngược ra sau lưng để hạ đối phương khi đối phương tiến tới tấn công từ phía sau.

16. Đinh Vị Kiếm Thức :

Đứng b́nh tĩnh, bàn tay trái đặt lên cánh tay phải cầm kiếm.

Chiêu kiếm này là thủ thức, dùng để chờ đối phương một cách thanh thản, không vội vă.

Khi biến thức, tiến về phía trước tấn công đối phương bằng thế Độc Long Thám HảI, mũi kiếm phóng vào ngực đối phương, tay trái dấu ra sau lưng.

Ngoài ra, cũng có thể biến chiêu thành Phượng Hoàng Vũ Kiếm, Hàn Tính Dụng Binh, …

Chiêu này có thể dùng làm khởi thức, do các biến thức rất linh động.

17. Thân Bộ Liên Hoàn Xuất Tam Kiếm :

Trong các thế thức thu kiếm lại th́ thức này rất đặc biệt, không thu vào eo, chĩa kiếm xuống đất hay cặp thanh kiếm vào sát bên nách mà hai tay cầm kiếm đưa lên cao, ngước cổ lên cao như một người cầm nhang sắp sửa cắm vào lư hương lúc tế lễ.

Nhưng thật sự thức này là nửa thu kiếm mà cũng vừa xuất kiếm. Khi tấn công, biến chiêu chém ra ba nhát cùng lúc vào đối phương, chân bước lên theo thế kiếm đi tới.

18. Hồi Bộ Thủ Hậu :

Tiếp theo thế “Thân Bộ Liên Hoàn Xuất Tam Kiếm”, người xoay ra sau lưng, mũi kiếm dốc xuống đất, khi vớt ngược ra sau có thể chặn binh khí đối phương ở sau lưng.

Chiêu này có tác dụng giữ thế thủ từ mặt sau.

19. Trực Tâm Kiếm Thức :

Hai tay chập vào chuôi kiếm, bước tới một bước, mũi kiếm đâm thẳng vào ngực đối phương, chân phải bước rùn xuống, chân trái thẳng ra như Đinh Tấn Hữu.

Chiêu này nhằm tấn công vào chính tâm đối phương, là một vị trí cơ yếu, bắt buộc đối phương phải thu kiếm pḥng thủ.

Chiêu này cũng có thể dùng trong trường hợp nguy cấp, khi muốn “song phương đồng tử”.

20. Quy Kiếm Hồi Bộ Thủ :

Lùi hai chân về một bộ, hai tay giữ lấy chuôi kiếm, mũi kiếm chĩa tới trước mặt. Mắt vẫn lăm lăm nh́n về đối phương, không để cho loạn tâm, mất b́nh tĩnh.

Tư thế này ở Trảo Mă Tấn có tác dụng lùi lại đề pḥng đối phương tấn công quá nhanh, nhưng không phải lùi lại mà thất thế.

21. Thiên Mă Hành Không :

Bước chân chồm lên như Lân Tấn, phóng kiếm vào đối phương vừa ở thế Quy Phục, kiếm chuyển thành thế tấn công về hướng đối phương trong lúc bất ngờ nhất.

Trong chiêu này, hai tay phóng kiếm khi hai chân bước chồm lên Lân Tấn, chân trái cũng hơn nhón lên một chút giống như bộ pháp Thiên Mă Hành Không.

22. Loang Kiếm Hộ Thân :

Chân bước tới hoặc lùi ra sau tùy vị trí đối phương, hai tay nắm chặt đốc kiếm, loang rộng ra.

Mỗi lần loang kiếm rộng ra là khiến cho đối phương thủ, dù nhiều hay ít cũng không thể xáp lại gần ta được. Sau đó thừa thế tấn công đối phương bằng một chiêu nào đó mà ta đă dự trù để chiến thắng, ví dụ : Quan Âm Chiếu Kính để chặt tay đối phương, Trực Tâm Kiếm Thức để hạ đối phương.

Lưu ư : Chiêu này chỉ nên sử dụng khi đối thủ cũng dùng đao kiếm hay các loại vũ khí ngắn. Nếu như đối thủ sử dụng các loại vũ khí dài (như thương, kích, …), khi đă nhập nội được rồi th́ tuyệt đối không nên dùng chiêu này.

23. Ngạ Hổ Đà Dương :

Chiêu này là vác kiếm lên vai giống như cọp đói vác con dê trên vai.

Sau đó, trong khi chạy tới trước mặt, bất thần phóng kiếm đâm ngược trở lại sau lưng để hạ đối phương đang chạy đuổi theo.

Chiêu này gần giống chiêu Ma Vương Trá Tẩu, nhưng dùng để đâm chứ không chém.

24. Kim Tỏa Trụy Địa :

Xà sát mặt đất, cả hai chân chéo qua, đó là Bát Quái Tấn, khi biến chiêu có thể xoay ṿng tṛn đánh cả tám hướng rất hiệu quả.

Chiêu thủ này lợi hại vô cùng, thường dùng để hồi sức khi thoái bộ xuống thế thủ chờ đối phương.

25. Thiên Vương Chiếu Yêu Kính :

Chân phải đặt trước, chân trái đặt ra sau, tay trái x̣e ra như tấm kính, mặt soi về phía trước, tay phải hơi vươn đà kiếm ra sau lưng.

Lúc biến thức, khoa tay trái một ṿng rồi kéo mạnh ra sau lưng dấu đi. Tay phải cầm kiếm từ sau lưng vung chém một ṿng từ sau ra trước, sau đó từ trên lại chém bổ xuống giữa đỉnh đầu đối phương.

Chiêu này cực kỳ hiểm độc.

26. Hồi Bộ Trác Ma :

Chiêu này tiếp theo chiêu Thiên Vương Chiếu Yêu Kính. Sau khi vung kiếm chém bổ xuống, kiếm theo đà lại ṿng ra sau lưng. Khi đó ta có thể nhảy một bước sang trái, hoặc sang phải, hoặc nhảy lùi một bước hồi bộ giữ thế thủ.

C̣n khi tấn công mà rùn xuống th́ sử thế Thiên Mă Hành Không.

27. Quan Công Kháng Binh :

Chiêu này dùng cho cả kiếm lẫn đao. Tay loang kiếm từ trước ra sau, mắt nh́n thẳng vào đối phương. Sau đó lại ṿng kiếm vớt ngược từ sau ra trước, hoặc hồi bộ, xoay qua trái, qua phải mà tấn công hai bên.

28. Hoàng Long Phục Địa :

Ngồi xuống theo bộ Phục Hổ, chân trái duỗi thẳng ra, chân phải co lại để chờ phóng cả thân người lên đâm mũi kiếm vào yết hầu đối phương.

Nếu đối phương từ trên chém xuống th́ đưa kiếm lên che ngang mà đỡ rồi chém một ṿng vào giữa thân ḿnh của đối phương.

29. Hoàng Long Quá Hải :

Dùng bộ Đinh Tấn Hữu, hai tay cầm chuôi kiếm, phóng kiếm đâm nhanh về phía bên phải. Cả người có thể phóng theo thế kiếm đâm ra một cách mạnh mẽ như con rồng vượt qua biển vậy.

Một biến thế khác, dùng bộ Đinh Tấn Tả, hai tay cầm chuôi kiếm, phóng kiếm đâm nhanh về phía bên trái.

30.  Hồi Kiếm Bái Tổ :

Kéo cả bộ pháp, thân pháp, kiếm pháp trở về lập tấn. Thanh kiếm cặp vào cánh tay trái có ư như giải kiếm không giao đấu nữa.

Sau đó cúi đầu hành lễ Bái Tổ, và dừng nghỉ.


Liên Hoa Kiếm Pháp

1. Thông Thiên Kiếm Thức :

Tay phải hướng ra ngoài, vung kiếm lên, mũi kiếm chiếu về hướng bên trái. Chân phải thẳng, chân trái co lại. Tay trái bỏ qua eo phải Giống như bộ tấn Kim Kê Độc Lập.

Khi tấn công th́ tiến theo thế Độc Long Thám Hải

2. Độc Long Thám Hải :

Kéo cả bộ pháp, thân pháp, kiếm pháp trở về lập tấn. Thanh kiếm cặp vào cánh tay trái có ư như giải kiếm không giao đấu nữa.

Sau đó cúi đầu hành lễ Bái Tổ, và dừng nghỉ.

3. Đảo Kiếm Đả Hậu :

Từ thế Độc Long Thám Hải tấn công đối phương thủ trước hai mặt, ta đâm kiếm về phía sau lưng để hạ đối phương từ phía sau tấn công tới.

Bộ pháp vẫn giữ Đinh Tấn, bàn tay trái khép chặt, bỏ thơng xuống sát nách vào đùi trái. Kiếm thọc ngang về phía sau.

4.  Hoành Bộ Liên Kiếm Đả Nghịch :

Vừa thọc kiếm đâm ra sau lưng, ta xoay ngay ra phía sau. Chân phải tung ngọn cước đá theo đà kiếm đang vươn dài tấn công đối phương bên phải. Tay trái thẳng ra sau lưng.giữ thăng bằng. Chân trái trụ đứng thẳng.

Kiếm pháp này rất lẹ làng uyển chuyển, là một tuyệt chiêu của Liên Hoa Kiếm Pháp

5.  Hồi Kiếm Bái Tổ :

Kéo cả bộ pháp, thân pháp, kiếm pháp trở về lập tấn. Thanh kiếm cặp vào cánh tay trái có ư như giải kiếm không giao đấu nữa.

Sau đó cúi đầu hành lễ Bái Tổ, và dừng nghỉ.


Mai Hoa Kiếm Pháp

1. Lập Kiếm Triều Thiên :

Đứng thẳng, lập tấn, tay cầm cán kiếm, mũi kiếm thẳng lên trời. Tuy đứng thẳng nghiêm trang như thế, nhưng có thể rùn xuống hoặc tấn lên, chém phải, đâm trái, tiến công mọi mặt

 

2. Kim Kê Độc Lập :

Gần giống như thế Thông Thiên Kiếm của Liên Hoa Kiếm Pháp, nhưng chân trái co gối cao hơn

Đứng thẳng, lập tấn, tay cầm cán kiếm, mũi kiếm thẳng lên trời. Tuy đứng thẳng nghiêm trang như thế, nhưng có thể rùn xuống hoặc tấn lên, chém phải, đâm trái, tiến công mọi mặt

3. Thanh Long Thám Hải :

Rùn bộ Trảo Mă Tấn, bỏ tay trái chống lên đùi. Kiếm chĩa thẳng mũi về phía đối phương. Đối phương chém vào đầu ta, ta dùng sống kiếm đỡ vẹt ra, rồi hai chân cùng tiến lên một bước, vung kiếm chém từ dưới lên nách đối phương

 

 

4. Lăo Mai Kiếm Thức :

Đứng ngả nghiêng, tréo chân qua lại như con khỉ già (lăo mai). Chờ đối phương rối loạn ta phóng kiếm lên thượng bàn đối phương (từ ngực trở lên)

Có thể dùng Xà Tấn, bỏ tréo chân mà tấn công cả bên tả hoặc bên hữu

Thế này rất hiểm, là một tuyệt chiêu của Mai Hoa Kiếm Pháp

 

 

5.  Chỉ Địa Tầm Xà :

Xoay người sang bên trái. Mũi kiếm chúc xuống đất. Chân phải trước, chân trái sau, tay trái che ngang trán. Chiêu này dụ đối phương tấn công vào tay trái và mặt, khi đó ta bất thần phóng mũi kiếm ngược lên đâm vào ngực đối phương.

Chiêu này rất hiểm độc.

 

 

6. Tiên Ông Chỉ Lộ :

Từ chiêu Chỉ Địa Tầm Xà, sau khi vung kiếm đâm vào ngực đối phương, ta bước sang bộ Đinh Tấn, xoay qua bên trái. Tay phải chỉ kiếm ngóc mũi kiếm lên cao và vươn dài ra. Với thế này nếu đối phương lùi ra th́ ta tiến lên đánh bức đối phương. Như thế gọi là đánh theo đ̣n, dùng để đánh đuổi đối phương khi đối phương quay người lại, hoặc bỏ chạy.

 

 

7. Lâm Xà Hành Kiếm :

Ở chiêu này, bộ chân bước chéo qua như Xà Tấn, cuốn tay phải cầm kiếm từ trong đâm xỉa ra, tay trái co lại giữ ở bên ngực. Toàn thân co lại

Có thể xoay người đảo kiếm một ṿng chém tiếp theo một nhát thứ hai ngược ra sau

8. Bàng Xà Kiếm Thức :

Thế này phù hợp cho người thuận tay trái từ trên hạ xuống Tọa Tấn (ngồi chồm hổm), đồng thời chém xuống, rồi ṿng tay cầm kiếm sang bên phải vớt ngược lên vào đối phương nhát thứ hai

9. Hồi Kiếm Bái Tổ :

Kéo cả bộ pháp, thân pháp, kiếm pháp trở về lập tấn. Thanh kiếm cặp vào cánh tay trái có ư như giải kiếm không giao đấu nữa.

Sau đó cúi đầu hành lễ Bái Tổ, và dừng nghỉ.


Liên Hoa Tâm Pháp

Phàm luyện công, gia phái nào chủ yếu cũng chỉ gồm điều thân, điều tức, điều tâm.

1. Điều thân pháp :

  • Tiền điều thân : người học phép tĩnh tọa, lúc b́nh thường đứng ngồi nằm phải thư thái, nếu cử động thô bạo sẽ ảnh hưởng đến sự điều tức, vận khí. Tâm không vững rất khó nhập tĩnh, v́ thế đấy là điều cần tu dưỡng
  • Trung điều thân : ngồi trên giường, hoặc trên ghế đặc chế, nới rộng nút áo, thắt lưng, ... ung dung nhập tọa. Trước hết từ hai chân, có thể ở tư thế đơn bàn hoặc song bàn, song đều phải ngồi ở tư thế tự nhiên. Sau đó tới hai tay, mu bàn tay phải đặt chồng lên ḷng bàn tay trái, co về ngang bụng dưới, đặt nhẹ nhàng trên đùi. Thân thể xoay sang trái, phải 7 đến 8 lần, thân lưng thẳng, không được gập người, đầu cổ thẳng, mũi và rốn thẳng với nhau theo một phương thẳng đứng, không lệch. Đẩy hết khí qua ṿm họng mở rộng, thở xong, lưỡi đặt nhẹ lên ṿm họng, hít nhẹ từ từ thanh khí từ 3 đến 7 lần. Ngậm miệng, răng, môi đóng kín, lưỡi vẫn đặt trên hàm ếch, nhẹ nhàng nhắm hai mắt, ngồi ngay ngắn. Nếu ngồi lâu, cơ thể mỏi mệt, xô lệch, cần điều chỉnh

  • Hậu điều thân : cần mở miệng nhả khí 10 đến 15 lần để nhiệt khí trong cơ thể tỏa ra ngoài, sau đó từ từ cử động thân thể, từ vai, lưng đến đầu, cổ, thư giăn hai tay, hai chân, ma sát hai ngón tay cái cho nóng lên rồi xát, day lên mi mắt, hai bên vành tai, khu vực đầu, ngực, bụng, hông, tay, vai, đùi, bắp chân, đến ḷng bàn chân th́ dừng. Đến khi ráo mồ hôi mới nên tự do hoạt động

2. Điều tức pháp :

  • Tiền điều tức : đặc biệt chú ư hơi thở vào, ra có hệ thống, theo tŕnh tự từ mũi - họng - ngực - bụng

  • Trung điều tức : khi nhập tọa, hơi thở không điều ḥa, nhịp tim sẽ không ổn định, v́ thế phải luyện sao cho hơi thở vừa chậm vừa nhẹ, nhịp nhàng và sâu. Có thể dùng một số phương pháp thổ nạp để luyện tập thêm, lâu dần sẽ thành thục, hơi thở sẽ nhịp nhàng

  • Hậu điều tức : tĩnh tọa xong, mở miệng thở khí, đợi thân nhiệt hạ thấp đôi chút, trở về trạng thái b́nh thường mới tùy ư vận động

3. Điều tâm pháp :

  • Tiền điều tâm : b́nh thường mỗi lời nói, mỗi cử chỉ đều dùng ư thức thu về tâm, luyện lâu có thể điều ḥa được nhịp tim

  • Trung điều tâm : sau khi nhập tọa, thường có hai khả năng, hoặc tâm tán loạn bất định, hoặc bị trầm cảm, dễ buồn ngủ. Nói chung, người mới học tĩnh tọa cần chuyên tâm đến tập trung ư, dồn suy nghĩ xuống ổ bụng, giữ hơi thở đều, sâu, khiến tinh thần hưng phấn, có thể khắc phục được hai trở ngại trên

  • Hậu điều tâm : tránh nghĩ vẩn vơ sau khi tĩnh tọa. Như trên đă nói, 3 phép điều thân, điều tức, điều tâm trên thực tế được tiến hành đồng thời. Việc luyện công chính là tu dưỡng để phối hợp đồng bộ 3 quá tŕnh trên

       Khi luyện công đă đạt tŕnh độ khá, đan điền sẽ phát nhiệt như nước sôi hoặc tự chuyển động nhẹ, đôi khi cũng có chấn động lớn, xuất hiện luồng nhiệt từ xương cụt lên các đốt sống. Khi hai bộ phận này đă khai thông cần tiếp tục kiên tŕ rèn luyện, không nên bỏ dở, thất thường, chỉ một thời gian sau sẽ khai thông Ngọc Chẩm, từ đó chia hai đường tỏa xuống, một tập hợp ở yết hầu, một từ ngực xuống đan điền.

      Như vậy, mỗi lần nhập tĩnh, ḍng khí nói trên sẽ từng bước lưu chuyển. Từ xương cụt chuyển lên môi là Đốc mạch, từ cằm xuống Hội âm là Nhâm mạch. Hai mạch Nhâm Đốc vốn đă thông nhau từ thời kỳ bào thai, ngoài ra c̣n có đới mạch ở vùng hông.

      Khi luyện công đến mức thượng thừa sẽ tạo ra ṿng tuần hoàn tả hữu chu thiên theo một quy luật. C̣n các mạch khác như sung mạch, âm kiêu, dương kiêu, âm dung, dương dung hợp thành bát mạch. Một khi tất cả thông suốt, khí huyết sẽ lưu thông không bị ngưng trệ, hết tật bệnh, nội khí sung măn.


 

 

Home ] Up ]

Send mail to Giang_Hoai_Ngoc@yahoo.com with questions or comments about this web site.
Copyright © 2006 Van Duc Cung
Last modified: December 24, 2007