|
Chào mừng bạn đă đến với chúng tôi Chúc bạn một ngày an lành
|
|
Giang Hoài Ngọc ----------------
---------------- ---------------- ---------------- ---------------- ---------------- ---------------- ---------------- ---------------- --------------- Thư Quán : --------------- Nhạc Quán : ------------------
(phản hồi)
Văn Đức Cung |
--- Trúc Lâm Cổ Tự ---Kinh Phổ :
Kinh Huyệt Đồ Phổ Khi
nghiên cứu nội ngoại công cần phải có "Bộ Đồ
Phổ Tuần hành 14 Kinh và Huyệt Vị” gồm 9 đồ
phổ :
4 - Sợ
đồ huyệt vị huyệt du ở ngực
bụng (71 huyệt).
5 - Sơ
đồ huyệt vi huyệt du ở eo lưng (63
huyệt).
6 - Sơ
đồ huyệt vị huyệt du ở phần
bụng và cạnh sườn (11 huyệt).
7 - Sơ
đồ huyệt vị huyệt du ở tay (gồm 2
bản : 26 thủ tam âm kinh huyệt, 38 thủ tam dương
kinh huyệt).
8 - Sơ đồ huyệt vị huyệt du ở chân (gồm 2 bản : 19 túc thái dương kinh huyệt, 15 túc dương minh kinh huyệt).
9 - Sơ
đồ huyệt ở chân (gồm 3 bản : bản 1
- huyệt thông tuyền; bản 2 - túc thái âm kinh
huyệt, túc quyết âm kinh huyệt và túc thiếu âm
kinh huyệt; và bản 3 - túc thiếu dương kinh
huyệt)
Thiền Mật Tuệ Công Thiền Mật Tuệ Công là lư luận dựa vào "định năng sinh tuệ" của nhà Phật nhằm bồi dưỡng, tăng cường trí nhớ, là một công pháp xem khai thác tiềm năng đại năo làm tôn chỉ 1. Tùng triển phóng thu : a) Lỏng ở chỗ mật : mật chỉ chỗ bí mật, c̣n gọi là đáy biển, địa hộ, tương đương với huyệt Hội Âm, nơi tiếp giáp giữa Nhâm Mạch và Đốc Mạch. Đối với nam giới, nó nằm giữa bao tinh hoàn và hậu môn. Nó không phải là một điểm, độ sâu và độ rộng của nó thông suốt với khoang bụng dưới. Thả lỏng chỗ đó có lợi cho lưu thông khí huyết toàn thân, đồng thời tiến hành luyện tam điều toàn thân :
b) Tuệ trung : Tuệ trung c̣n gọi là tuệ mục, là chỗ lơm giữa hai đầu lông mày, không phải là một điểm mà là một vùng. Cũng tiến hành luyện tam điều :
c) Lỏng tại toàn thân : thông qua lỏng chỗ mật và phát triển tuệ trung, đem ḷng dạ được thư thái trong cái vũ trụ vô biên, đem tâm cảnh nội tại duy nhất phóng ra ḥa với ngoại cảnh. Phóng là bộ phận tổ thành quan trọng của công pháp khí công sau này, cần thể hội kỹ càng. Khi phóng cũng cần kết hợp luyện tam điều :
d) Thu quy bụng dưới : mở mắt viễn thị thế giới ngoại cảnh, nhắm mắt nội thị trung tâm khoang bụng dưới, đưa vào các bước trên làm cơ sở, cần luyện tập thường xuyên, kiên tŕ không nản.
Thời gian luyện công của phương pháp này không có quy định, tự giác chọn vừa độ là chuẩn. Luyện đến một thời gian nhất định, toàn thân có thể sinh ra cảm giác nóng ấm, buồn, nhẹ nặng, ... bất chợt nh́n thấy ánh sáng sao băng, sấm chớp, mặt trời mới mọc, ... Lúc đó không nên lo lắng sợ hăi, xử lư tự nhiên, không được nghĩ nhiều hoặc cố ư đuổi theo 2. Xông lên quán hạ : Hơi nhắm hai mắt, hai chân tách rời và mở rộng bằng vai, đầu bàn chân hơi hướng ra ngoài, đầu gối cần linh hoạt, chân thẳng, thu cánh tay ở mức độ hơi cong, hợp sinh lư tự nhiên của lưng. Hai cánh tay hơi cong, vị trí ở hai bên đầu, ḷng bàn tay hướng vào trong
Khi mới tập có thể vị trí trước ngực, trước bụng, tay với đầu hoặc ngực bụng không cách quá 35cm. Cần làm được ngón tay, chân thả lỏng, khoang nách sườn ... xuống chỗ kín, trọng lượng rơi vào gót chân. Phương pháp cụ thể : coi trọng điểm liên tuyến của hai gót chân làm một điểm, chỗ mật, cổ thành một điểm, yêu cầu ba điểm thượng, trung, hạ thành một tuyến thẳng, trọng tâm rơi trên hai gót chân, duy tŕ cơ thể thăng bằng, toàn thân thả lỏng Ư niệm từ trên xuống dưới, cần tiến hành quán thông cột sống, xông lên cổ và hai vai, xuống chỗ kín và hai ḷng bàn chân, một lên một xuống, xuống thẳng bàn chân nhưng yêu cầu chậm, ôn ḥa, tự nhiên, đa số học quán hạ trước, sau luyện xông lên. Luyện đến mức nhất định có thể cảm thấy đất trời và ḿnh ḥa hợp lẫn nhau, cảm giác cả ba là một, có khi có cảm giác như sấm chớp, chim kêu, ... Tất cả đều thuộc về hiệu ứng luyện công b́nh thường, nên thuận tự nhiên, không được sợ hăi 3. Hướng ngang vô hạn : Hai mắt hơi nhắm, ư niệm hướng ngang. Không có giới hạn, xem bản thân khách quan hóa, thể xác vũ trụ hóa. Đây là đ́nh thần và thâm hóa của điều thân. Khi ư niệm hướng ngang, điều tức có yêu cầu nhất định : khi thở ra từ bụng dưới, khi hít vào quy bụng dưới, xuất tụ ở khoang bụng, thở ra hít vào đều bị động, tần xuất tự nhiên, yêu cầu khép trong trên dưới, trước sau, trong ngoài. Thoát ra không giới hạn, thu vào đến tṛn đầy. Cần "khí tài sơn hà", xem vũ trụ và cơ thể là một, không phân biệt, cảm giác cùng thở cùng sống. Môi trường luyện công của giai đoạn này nên chọn nơi yên tĩnh, sạch, thoáng,... Trong luyện công cảm giác một mặt hoặc một phần nào đó của cơ thể khác thường, cần mở mắt nh́n khắp nơi, t́m ra nguyên nhân gây ảnh hưởng, t́m cách tránh, sau đó luyện tiếp 4. Phương pháp thu công : Hai tay chắp trước ngực, sau đó đan hai tay đặt ở trước bụng dưới, lại phản nội thị, ven cột sống đến khoang bụng dưới, cùng dùng tai mắt, làm tăng tác dụng của ư và cảm giác của khí. Đợi toàn thân đ́nh động và sau khi khí cảm tự giác mất đi th́ thu công
Lục Diệu Pháp Môn "Lục Diệu Pháp Môn" là công pháp cơ bản của Phật gia tọa đan. Người luyện "Lục Diệu Pháp Môn" chủ yếu căn bản là nội hành, tam thừa đắc đạo kinh Phật. Ngồi trên thảm cỏ dưới bóng cây, nội tư yên tĩnh, nhất số, nhị tùy, tam chỉ, tứ quan, ngũ hoàn, lục tịnh. Cứ thế tiến hành tất sẽ đắc đạo. Tương truyền muốn xuất gia tu luyện đắc đạo cũng dựa theo công pháp này. Công pháp này mang sắc thái Phật Giáo tự nhiên, dễ học dễ luyện. Cụ thể chia thành 6 bước, gọi là "lục diệu" : 1. Số Tức Pháp : Sau khi làm tốt công tác chuẩn bị luyện công, hai mắt hơi nhắm, không suy nghĩ lung tung, tập trung, ngồi yên tĩnh một lát, giúp hô hấp b́nh ḥa. Sau đó thở bằng mũi, đầu tiên đếm hơi thở, tức đếm số lần hô hấp, hoặc đếm hít vào không đếm thở ra, hoặc ngược lại. Cách làm cụ thể : khi hít vào lần 1 đếm 1, tiếp theo hít vào lần 2 đếm 2, như thế đến 10 chính là một ṿng, hết ṿng quay lại từ đầu, dến khi không c̣n tạp niệm quấy nhiễu th́ không cần đếm, tự nhiên nhập tĩnh, nếu đếm sẽ ảnh hưởng đến an tĩnh. Trong khi đếm, nếu do sự việc quấy nhiễu th́ tụ tâm thần, tập trung tư tưởng, lại đếm từ đầu 2. Tùy Tức Pháp :
Đây là bước thứ 2, dựa trên cơ sở
số tức, chú ư thượng hạ xuất nhập
của hơi thở, giúp cho ư niệm dựa theo hơi
thở mà tiến lui, không hao tổn lực. Khi thở ra
khí xuống dưới, khi hít vào khí xông lên 3. Chỉ Tức Pháp :
Đây là bước thứ 3, trên cơ sở tùy tức
luyện thêm bước nữa. Lúc này ư niệm không
tiến lui theo tùy tức mà là chỉ do đan điền
hoặc một phần của cơ thể như chỗ
huyệt ấn đường, hoặc đầu mũi,
hô hấp tựa hồ đă ngừng, tiến thêm vào
loại nhập tĩnh cao độ 4. Quan Tức Pháp :
Đây là bước thứ 4, tiến hành trên cơ
sở của chỉ tức. Trong trạng thái nhập tĩnh
cao độ, dùng ư niệm quan sát trạng thái hô hấp
của ḿnh, đấy chính là nội thị hô hấp.
Khi đó thở nhẹ sâu, phảng phất tựa gió
nhẹ trong không trung, hiểu thực tế trời đất,
nguời tập luyện tập trung có thể thấy hơi
thở cùng lông mao trên người phập phồng 5. Hoàn Tức Pháp :
Đây là bước thứ 5, theo cơ sở của quan
tức, lại hoàn về đan điền, hô hấp hoàn
toàn không do ư thức, đi vào ranh giới nhập tĩnh
cao hơn, đạt được hoàn nguyên. Khi đó ư
niệm tựa như không có tác dụng ǵ lớn, nhưng
thực tế lại tăng cường năng lực
khống chế, cho dù xuất hiện t́nh huống nào,
đều có thể làm như vậy 6. Tịnh Tức Pháp :
Đây là bước thứ 6, trên cơ sở hoàn
tức, đạt đến một ranh giới hoàn toàn
không có tạp niệm, tâm địa thuần tịnh, ư
niệm cũng không tồn tại, … Đây là giai đoạn
cao nhất trong luyện công, tâm như nước trong, không
có tạp niệm, không chút ồn ào, quên cả ḿnh và
vật “Lục
Diệu Pháp Môn” là loại công pháp kết hợp
điều tức với điều tâm (chủ yếu),
thuộc về Phật Môn. Nội dung chủ yếu
của điều tâm là thủ ba chỗ lơm, ư niệm
tập trung ở giữa hai vai, trên trán, đầu mũi
hoặc đỉnh đầu, trong rốn, vùng tim. Nội
dung chính của điều tức chia thành tứ tương,
trong đó phong tương, đoan tương, khí tương
là cách hô hấp chưa chuẩn xác, chỉ có tức tương
là tốt nhất “Luyện
chỉ tọa đan pháp” chỉ rơ vận hành
thế nào tứ tương. Khi ngồi cảm giác khí ra
vào qua mũi, có thanh, đó là phong tương. Đoan tương
là khi ngồi thở khí ra vào tuy vô thanh nhưng đọng
lại không thông. Khí tương là khi ngồi thở vô
thanh, không đọng lại, khí ra vào không đều. Không
thanh, không kết, không thô, ra vào đều, như có như
không, tư thần yên ổn, đó là tức tương.
Muốn có được tức tương cần tính t́nh
ổn định, bài trừ tạp niệm, thuận
lợi nhập tĩnh, thả lỏng cơ thể, tránh căng
thẳng, mặc tưởng hơi thở ra vào từ
lỗ chân lông trên cơ thể, không phải miệng mũi.
Gọi là tức tương là hô hấp đạt tiêu
chuẩn : nhỏ, nhẹ, đều, sâu, dài nhưng không
giống như thở mạnh trong tam tương, ngắn
lại có tiếng Ngũ Li Hô "Ngũ Li Hô" là công pháp thời cổ do danh y Hoa Đà tổng kết kinh nghiệm khí công dưỡng sinh của các bậc tiền bối thành một bộ dưỡng sinh khí công pháp Khi luỵện "Ngũ Li Hô" yêu cầu toàn thân thả lỏng, ư thủ đan điền, thở đều, từ từ, vận động thân ḿnh cần có ngoại h́nh và thần khí giống ngũ li, hoạt bát tự nhiên mới đạt hiệu quả "Ngũ Li Hô" có thể tuần tự luyện bộ hoàn chỉnh, cũng có khi chỉ luyện một vài kiểu, tùy vào yêu cầu mà quyết định 1. Hùng Hô : Khi luyện cần giống dáng vẻ hoang dă thô kệch của con gấu, như biểu hiện dáng đi thẳng, bước đi có thần thái. Dáng bên ngoài của con gấu có vẻ nặng nề, nhưng bên trong cái chậm chạp nặng nề đó lại thuộc về linh hoạt uyển chuyển. "Hùng Hô" có tác dụng khiến trên hư dưới thực, khắc phục đầu nặng chân nhẹ, làm khỏe phổi và dạ dày, trợ tiêu hóa, khớp xương linh hoạt a) Chuẩn bị : hai chân đứng tự nhiên, mở rộng bằng vai, hai cánh tay hạ thấp tự nhiên, thở sâu 3 - 5 lần
b) Động tác :
2. Hổ Hô : Khi tập phải thể hiện thần thái mạnh mẽ như mắt sáng long lanh, lắc đầu vẫy tay, lao về phía trước, ... Dụng công cần trong cương có nhu, trong nhu có cương, không thể chỉ dùng cương, động tác cần phối hợp nhịp nhàng, nhưng dũng mănh. Động tác "Hổ Hô" cương mănh, tác dụng tăng cường thể lực a) Chuẩn bị : hai cánh tay hạ thấp tự nhiên, cổ thẳng, nét mặt tự nhiên, mắt nh́n phía trước, miệng ngậm, đầu lưỡi hơi chạm hàm ếch, toàn thân thả lỏng. Đứng như thế một lát rồi thực hiện động tác sau
b) Động tác :
3. Viên Hô : Khi luyện cần biểu hiện thần thái như tính hiếu động của con vượn : leo núi, trèo cây, hái trái, ... "Viên Hô" có tác dụng tăng độ linh hoạt, có lợi cho khớp xương và lưu thông khí huyết a) Chuẩn bị : giống "Hổ Hô" b) Động tác :
4. Lộc Hô : Khi luyện cần có dáng vẻ thư thái của con hươu, tư thế tự nhiên thể hiện được thần thái của con hươu như ngoái cổ, co chân chạy, rụt cổ, ... "Lộc Hô" có tác dụng luyện lực cho chân và gân cốt a) Chuẩn bị : giống "Hổ Hô" b) Động tác :
5. Nga Hô : Khi tập mô tả dáng vẻ tự nhiên của con thiên nga, thể hiện được thần thái như vỗ cánh, bay liệng, đứng một ḿnh, ... "Nga Hô" có tác dụng tăng cường công năng tim phổi, cường kiện thận, điều vận khí huyết, lưu thông kinh lạc a) Chuẩn bị : hai chân song song và đứng thẳng, hai cánh tay hạ thấp tự nhiên, mắt nh́n về trước, tâm b́nh khí ḥa b) Động tác :
Sau đó đổi làm ngược lại, tiếp tục động tác vỗ cách - lạc nhạn. Làm nhiều lần, không hạn chế số lần Hồng Diệu Thủ "Hồng Diệu Thủ" vốn là tuyệt kỹ của vơ lâm c̣n lưu truyền đến ngày nay. Tương truyền vơ thuật gia đến khi luyện đạt kỹ thuật thành thục có thể vận nội khí quán vào tay, khi đấm tạo một lực cực mạnh làm đối phương bị nội thương. Công pháp này sau khi được chỉnh lư rất có lợi cho việc tăng cường sức khỏe, pḥng bệnh, thậm chí một số bênh nan y nếu luyện cũng có thể thuyên giảm 1. Chuẩn bị : đứng thẳng, hai chân mở rộng bằng vai, ưỡn ngực thót bụng, toàn thân thả lỏng, đầu lưỡi chạm hàm ếch, từ từ tập trung, hô hấp bằng mũi 2. Hạ án thức : hai vai buông, ḷng bàn tay úp xuống, ngón tay quay về phía trước, từ từ hít khí đưa vào đan điền, đồng thời co hai vai, khi thở ra bàn chân bám vào đất, nâng hậu môn, bụng dưới ưỡn, ư niệm khí từ đan điền xung lên hai bàn tay, hai bàn tay từ từ về tư thế ban đầu. Làm như thế 49 lần
3. Tiền suy thức : hai cánh tay giơ ra trước và song song, tay ngang bằng vai, ḷng bàn tay ngửa, yêu cầu hô hấp giống thức trước, hít vào co hai vai, ư niệm quán khí đến bàn tay, bàn tay từ từ quay về thế cũ, làm như thế 49 lần
4. Trực cử thức : hai cánh tay giơ thẳng lên cao, bàn tay thác thiên, yêu cầu họ hấp như thức trước, khi hít vào thu hai cánh tay, ư niệm quán khí đếu sau bàn tay, bàn tay từ từ quay về thế ban đầu. Làm như thế 49 lần
5. B́nh thân thức : hai cánh tay dang ngang như h́nh chữ nhất, ḷng bàn tay quay ra ngoài, ngón tay hướng lên, yêu cầu hô hấp như thức trước. Khi hít vào 2 cánh tay co lại, ư niệm quán khí đến bàn tay, sau đó bàn tay từ từ quay về vị trí ban đầu. Làm như thế 49 lần
6. Thác truyền thức : hai cánh tay
buông xuống, ḷng bàn tay úp, ngón tay hướng ra phía trước, khi hít
thở xem lưng làm trục, trước hết xoay sang trái, chân đứng im,
khi xoay sang trái hai tay đan chéo ở phía trên người, khi
đó thân trên hoàn toàn đổ sang trái, hai tay ṿng lên trên,
đan chéo ở trên đỉnh đầu, sau đó tách
rời trái phải, ḷng bàn tay hướng ngoại, đồng
thời hít vào đổi thành thở ra, khi thở ra bàn
chân trụ đất, nâng hậu môn, ưỡn bụng
dưới, ư niệm khí từ đan điền đến
bàn tay, bàn tay hướng ngoại, từ từ hạ
thấp, thân người dần chuyển về tư
thế ban đầu. Sau đó xoay sang phải, động
tác cách thở giống như xoay sang trái. Làm như
thế 49 lần
Công pháp này lượng vận động tương
đối lớn, yêu cầu thể chất người
luyện công tương đối tốt. Thời gian
luyện công tốt nhất là sáng sớm, ở những
nơi không khí trong lành như công viên, rừng cây,
mặt quay về hướng đông, thở ra khí xấu,
hấp và khí tốt. Thời gian luyện công cần chú
ư đến dinh dưỡng, đảm bảo giấc
ngủ, điều tiết t́nh dục. Khi luyện công
hoạt động của tay cần khép tṛn, cần dùng
nội lực, không quá cứng mạnh, kiên tŕ sẽ thành
công |
|
Send mail to
Giang_Hoai_Ngoc@yahoo.com with
questions or comments about this web site.
|