This site hosted by Free.ProHosting.com
Google

Y Quán

Chào mừng bạn đă đến với chúng tôi

Chúc bạn một ngày an lành


Giang Hoài Ngọc

----------------

Vọng cổ

Index

----------------

Trúc Lâm Cổ Tự

----------------

Tân Tây Vơ Quán

----------------

Bốc Tử Quán

----------------

Đạo Gia Khí Công

----------------

Thiếu Lâm Tự

----------------

Thi Quán

----------------

Y Quán

----------------

Việt Nam Thân Yêu

---------------

Thư Quán :

Truyện kiếm hiệp

Truyện trinh thám

Bách gia tính

---------------

Nhạc Quán :

------------------

.  ©  .

(phản hồi)

Văn Đức Cung


--- Thức ăn chữa bệnh ---

 

Từ lâu, các món ăn đă giữ một vai tṛ quan trọng trong y học, đặc biệt là y học cổ truyền. Sưu tầm và thu góp qua nhiều nguồn tài liệu về các món ăn có tác dụng vừa dinh dưỡng vừa trị liệu, bản quán ghi nhận được gần 300 món, gồm các loại sau :

  •  Các món trà chữa bệnh

  •  Những món ăn giải cảm

  •  Những món ăn chữa ho, b́nh suyễn

  •  Những món ăn bổ khí

  •  Những món ăn bổ huyết

  •  Những món ăn bổ Khí huyết

  •  Những món ăn an thần

  •  Những món ăn khai vị, kiện tỳ

  •  Những món ăn lư khí, kiện tỳ

  •  Những món ăn nhuận phế, giảm ho

  •  Những món ăn tiêu thực hóa tích

  •  Những món ăn kiện tỳ lợi thấp

  •  Những món ăn ôn bổ tỳ vị

  •  Những món ăn bổ dưỡng thận và khí huyết

  •  Những món canh trị bệnh phụ nữ

  •  Những món canh bổ phổi trị ho

  •  Những món canh trị các chứng viêm

  •  Những món canh mát gan sáng mắt

  •  Những món chưng dưỡng phế, ôn thận, b́nh can

  •  Những món hầm bổ thận dưỡng huyết

  •  Những món xào nấu hoạt huyết, bổ khí, ích tinh, thanh nhiệt

  •  Những món cháo kiện tỳ, tiêu thực, ôn trung tán hàn, hạ khí

  •  Những món canh trị các bệnh thường gặp khác

Thực tế chắn chắn phải c̣n nhiều hơn nữa


Các món trà chữa bệnh

1. Trà Đào nhân, Quyết minh :

Tác dụng : ích can thận, hạ huyết áp, nhuận táo

Vật liệu : Đào nhân 10g, Thảo quyết minh 12g

Cách thực hiện : Đào nhân đâm nhuyễn. Đem tất cả sắc chung lấy nước, bỏ bă thuốc

Cách dùng : lúc uống thêm một ít mật ong vào, khuấy đều

Trường hợp được dùng : bệnh cao huyết áp, có thói quen táo bón của tuổi già

Giải thích :
- Thảo quyết minh thanh can ích thận, đi xuống thông tiện
- Đào nhân nhuận táo hoạt trường, chữa đại tràng huyết táo, táo bón
- Thêm mật ong để điều chỉnh mùi vị, hạ huyết áp và điều ḥa tính thuốc

2. Trà Cúc - Tang, Bạc, Trúc :

Tác dụng : thanh nhiệt, giải độc, dưỡng can, sáng mắt

Vật liệu : Cúc hoa 5g, Tang diệp 5g, Bạc hà 3g, Trúc diệp 30g, Bạch mao căn (rễ cỏ tranh) 30g

Cách thực hiện : cho tất cả vào ấm trà, chế nước vào, đậy nắp lại chờ 10 phút

Cách dùng : uống thay trà

Trường hợp được dùng : bị cảm do phong nhiệt như phát sốt, nhứt đầu, đổ mồ hôi, nghẹt mũi, cổ họng sưng đau, ho đờm đặc

Giải thích :
- Bạc hà vị cay tính mát, phát tán thanh nhiệt, thanh đầu mục, lợi yết hầu
- Trúc diệp thanh tâm trừ phiền, tán tả phong nhiệt ở thượng tiêu
- Bạch mao căn sinh tân giải khát
- Tang diệp khử phong nhiệt tà
- Cúc hoa sơ phong thanh nhiệt, dưỡng can minh mục, thanh nhiệt giải độc

3. Trà Pḥng phong, Gừng, Táo

Tác dụng : khu phong hoạt lạc, tuyên tê giảm đau

Vật liệu : Pḥng phong 15g, Khương hoạt 6g, Gừng tươi 12g, Đương quy 9g, Táo đỏ 10 trái

Cách thực hiện : tất cả vật liệu cho vào nồi với lượng nước vừa đủ, sắc lấy nước, bỏ bă thuốc

Trường hợp được dùng : chữa viêm khớp dạng phong thấp, viêm khớp loại phong thấp do ngoại cảm phong hàn thấp, có triệu chứng như các khớp sưng đau, chỗ đau không định chỗ, kèm phát sốt, sợ lạnh, đổ mồ hôi

Giải thích :
- Pḥng phong vị ngọt tính hơi ấm, khu phong tán hàn, tuyên phế giảm đau, thư cân hoạt lạc
- Khương hoạt có công năng khu phong tán hàn, trừ thấp giảm đau và thông lợi khớp xương
- Đương quy chất nhuận dưỡng huyết
- Gừng tươi khu phong tán hàn
- Táo đỏ bổ ích trường vị
- Cúc hoa sơ phong thanh nhiệt, dưỡng can minh mục, thanh nhiệt giải độc

4. Trà Cúc hoa, Lô căn :

Tác dụng : thanh nhiệt, lợi tiểu

Vật liệu : Cúc hoa 10g, Lô căn (rễ lau) 60g

Cách thực hiện : Lô căn xắt nhỏ. Cho tất cả vật liệu vào nồi, thêm lượng nước vừa đủ, nấu cho sôi một lúc, vớt bỏ bă thuốc

Cách dùng : uống thay trà

Trường hợp được dùng : chữa bệnh sởi, trái rạ trẻ em

Giải thích :
- Lô căn vị ngọt tính hàn, có công năng sinh tân dịch, thường dùng chữa trong thời kỳ đầu của ôn bệnh, hoặc nhiệt bệnh tổn thương tân dịch mà sinh phiền nhiệt, khát nước
- Cúc hoa thanh nhiệt giải độc
- Trà này thanh phế nhiệt, lợi tiểu, dẫn nhiệt độc vùng phổi đi xuống theo đường tiết niệu ra ngoài

5. Trà Tô diệp, Gừng tươi, Đường phèn :

Tác dụng : phát tán phong hàn, giải cảm

Vật liệu : Tô diệp 3g, Gừng tươi 3 lát, Đường phèn 15g

Cách thực hiện : cho Tô diệp, Gừng tươi chung vào ly với đường phèn, chế nước sôi vào, đậy nắp lại chờ 10 phút

Cách dùng : uống thay trà

Trường hợp được dùng : thời kỳ đầu của cảm mạo phong hàn

Giải thích :
- Gừng tươi, đường phèn là toa thuốc thường dùng chữa trị cảm mạo phong hàn, nhức đầu nghẹt mũi của dân gian
- Tô diệp vị cay tính ấm, có công năng tán phong hàn, lại giỏi hành khí khoan trung và an thần. Thích hợp chữa ngoại cảm phong hàn, sợ lạnh phát sốt, không đổ mồ hôi
- Trà này có sức phát tán phong hàn rất mạnh

6. Trà Tô diệp, Tân di, Tế tân :

Tác dụng : phát tán phong hàn, khai khiếu thông mũi

Vật liệu : Tô diệp 6g, Tân di 2g, Tế tân 2g

Cách thực hiện : tất cả vật liệu trên tán nhuyễn, rồi cho vào ly. Chế nước sôi, đậy nắp lại chờ 10 phút

Cách dùng : uống thay trà

Trường hợp được dùng : ngoại cảm nhứt đầu, nghẹt mũi

Giải thích :
- Trong thang này lấy Tô diệp phát tán phong hàn làm chủ, lấy Tân di hóa tán phong tà, thông tỷ khiếu, giảm đau đầu làm phụ
- Tế tân giải biểu tán hàn, khu phong giảm đau
- Ba vị thuốc hợp lại công hiệu chữa trị càng rơ rệt

7. Trà Thanh nhiệt, Hóa thấp :

Tác dụng : thanh lợi đầu mục, điều ḥa tỳ vị

Vật liệu : Rễ lau tươi 2 nhánh, Cốc nha (sao) 5g, Trúc nhự 4,5g, Tiêu sơn tra 9g, Quất hồng 2,4g, Sương tang diệp 6g

Cách thực hiện : Rễ lau chặt nát. Cho tất cả vào nồi, thêm 500ml nước, nấu khoảng nửa tiếng, tắt lửa, đợi vài phút, lọc lấy nước sắc

Cách dùng : uống thay trà

Trường hợp được dùng : thích hợp chứng nhức đầu, ho hen, mắt sưng đỏ, công năng tiêu hóa mất điều tiết dẫn đến kém ăn, mệt mỏi, ợ hơi, ợ chua

Giải thích :
- Rễ lau vị ngọt tính hàn, thanh khí nhiệt của phế vị, bởi thanh đạm không trệ, sinh tân mà không có cái hại về liễm tà nên thường dùng cho thời kỳ đầu của ôn bệnh
- Trúc nhự giỏi thanh nhiệt của phế vị
- Tang diệp thanh tà của phong nhiệt, chữa đau đầu đỏ mắt
- Quất hồng tiêu đờm lợi khí, khoan trung cầm mửa, chữa buồn nôn ói mửa, ngực căng đau
- Cốc nha, Sơn tra kiện tỳ khai vị, tiêu thực hóa tích
Chú ư : không nên dùng thức ăn béo mỡ nhiều, thức ăn khó tiêu

8. Trà Bạch mao, Sinh địa, Bá diệp ẩm :

Tác dụng : thanh nhiệt lương huyết, cầm máu

Vật liệu : Bạch mao căn 100g, Sinh địa 30g, Trắc bá diệp 20g

Cách thực hiện : Bạch mao căn cắt nát. Cho vào nồi chưng với Sinh địa, Trắc bá diệp, thêm nước vừa đủ sắc lấy nước, bỏ bă thuốc

Cách dùng : uống thay trà, mỗi ngày một thang, uống liên tục 3-5 ngày

Trường hợp được dùng : huyết nhiệt chạy càn, xuất hiện bầm tím ngoài da

Giải thích :
- Sinh địa vị ngọt tính hàn, chất nhuận đắng để tiết nhiệt, là thuốc tư âm lương huyết, huyết lương th́ tịnh nên có hiệu quả lương huyết cầm máu
- Trắc bá diệp đắng táo thấp, chát thu liễm, hơi lạnh thanh nhiệt nên là thuốc lương huyết thu liễm, cầm máu

9. Trà Bạc hà, Thương di, Bạch chỉ :

Tác dụng : sơ phong khai khiếu, thông mũi chữa tỷ uyên

Vật liệu : Bạc hà 8g, Bạch chỉ 6g, Tân di 6g, Thương nhĩ tử 12g, Trà 2g, Phần đầu trắng hành lá 3 tép

Cách thực hiện : cho tất cả vật liệu trên vào nồi, thêm nước vừa đủ, sắc lấy nước, bỏ bă thuốc

Cách dùng : uống thay trà

Trường hợp được dùng : viêm mũi, viêm xoang mũi

Giải thích :
- Thang nhĩ tử là chủ dược chữa tỷ uyên, giỏi phát hăn, tán phong thấp, chữa đau đầu, mờ mắt, đau răng
- Bạc hà, Bạch chỉ, Tân di, Đầu trắng hành lá đều là thuốc sơ phong thông khiếu

10. Trà Tang diệp, Bạc, Cúc, Tỳ bà :

Tác dụng : sơ tán phong nhiệt, thanh phế trừ ho

Vật liệu : Tang diệp 500g, Bạch hà 250g, Hoàng cúc hoa 250g, Tỳ bà diệp 250g

Cách thực hiện : tất cả vật liệu trên tán nhỏ, cho vào túi vải mỏng, mỗi túi 10-15g. Khi dùng cho túi trà vào tách, chế nước sôi vào, đậy nắp lại chờ 10 phút

Cách dùng : uống thay trà

Trường hợp được dùng : lúc mới nhiễm phong nhiệt, cảm mạo

Giải thích :
- Tang diệp, Cúc hoa, Bạc hà đều là thuốc giải biểu, có công hiệu sơ tán phong nhiệt
- Tỳ bà vị đắng tính mát, hạ phế nhiệt, hóa đàm trừ ho

11. Trà Ư dĩ, Pḥng phong ẩm :

Tác dụng : khu phong trừ thấp, thông tê giảm đau

Vật liệu : Ư dĩ 30g, Pḥng phong 10g

Cách thực hiện : cho tất cả vào nồi, thêm nước vừa đủ sắc lấy nước, bỏ bă thuốc

Cách dùng : uống thay trà, 1-2 thang mỗi ngày, uống liên tục 1 tuần

Trường hợp được dùng : chứng phong thấp sâu trong kinh lạc dẫn đến khớp xương tay chân nặng nề và đau nhức, thậm chí hơi sưng và sốt

Giải thích :
- Pḥng phong tán phong trừ thấp, thường dùng chữa ngoại cảm phong hàn hoặc phong nhiệt, sợ lạnh phát sốt, đau đầu và ḿnh mẩy
- Dùng chung với Ư dĩ chữa phong thấp tê đau, có công hiệu khu phong trừ thấp, thông tê giảm đau
Chú ư : không dùng những món ăn có tính kích thích mạnh và thức ăn quá lạnh

12. Rượu Cúc - Địa, Quy, Kỳ, Táo :

Tác dụng : dưỡng huyết bổ khí, dưỡng tâm an thần

Vật liệu : Cúc hoa 30g, Câu kỷ tử 30g, Thục địa 10g, Đương quy 10g, Táo nhân (sao) 10g, Rượu đế 500g

Cách thực hiện : cho tất cả 5 vị thuốc ngâm vào rượu đế, đậy kín lại, 7 ngày sau có thể dùng

Cách dùng : mỗi ngày uống 1 chung nhỏ

Trường hợp được dùng : chữa bệnh do khí huyết khuy hư, có triệu chứng chóng mặt, hoa mắt, khi lao động mệt nhọc th́ bộc phát liền, hoặc nặng hơn, sắc mặt trắng nhợt, môi nhợt nhạt, tim hồi hộp khó ngủ, tinh thần mệt mỏi, kém ăn

Giải thích :
- Đương quy bổ huyết hoạt huyết, chữa các chứng huyết hư như chóng mặt, hoa mắt, tim hồi hộp, mệt mỏi, sức yếu
- Thục địa dưỡng huyết bổ tủy
- Câu kỷ tử bổ huyết ích tinh, chữa can thận khuy hư, tinh huyết bất túc dẫn tới đau lưng mỏi gối, chóng mặt ù tai
- Táo nhân (sao) dưỡng tâm an thần, chữa chứng hư phiền không ngủ được, tim hồi hộp, mộng mị
- Cúc hoa sơ phong thanh nhiệt, dưỡng can sáng mắt

Các món ăn giải cảm

1. Trứng gà chưng bạch chỉ :

Tác dụng : khu phong hàn, chỉ đầu thống

Vật liệu : trứng gà 2 quả, Bạch chỉ 12g, Xuyên khung15g

Cách thực hiện : Bạch chỉ, Xuyên khung xắt nhỏ. Trứng gà luộc chín lột vỏ, dùng kim châm vài chỗ. Đem trứng gà cho vào nồi, sắp Bạch chỉ, Xuyên khung chung quanh, đậy nắp lại, chưng cách thủy với lửa riu riu trong khoảng 2 giờ. Khi chín bỏ bă thuốc, chỉ ăn trứng gà và nước

Trường hợp được dùng : dùng khi bị các chứng cảm mạo nhức đầu do phong hàn, xuất hiện các triệu chứng nhức đầu từng cơn, gặp gió càng nặng hơn, sợ lạnh sợ gió, nghẹt mũi khan tiếng. Ngoài ra khi bị nhức đầu do đầu phong cũng có thể dùng món này

Giải thích :
- Bạch chỉ vị cay tính ấm, mùi hương nồng là dược vị chủ yếu để khu phong chỉ thống rất hiệu nghiệm về thương hành đầu mục để khử phong tà, thông tị khiếu, chỉ đầu thống, thường vẫn được dùng để trị đầu phong, nhức đầu và pḥng hàn nghẹt mũi
- Xuyên khung vị cay tính ấm thơm tho, công năng tương tự như Bạch chỉ nhưng tác dụng cầm đau tốt hơn
- Trứng gà có tác dụng giảm bớt tính cay táo của thuốc
- Khi chưng với hai vị thuốc trên, thành phần thuốc xâm vào trứng sẽ có tác dụng chữa trị rất tốt. Đây là một trong những món ăn phổ biến và được nhiều thế hệ truyền nối tin tưởng hiệu nghiệm
Chú ư : nhức đầu do âm hư dương thịnh không được dùng món này

2. Cháo tía tô :

Tác dụng : phát tán phong hàn, lư khí hành trệ

Vật liệu : lá tía tô15g, gạo cũ 60g

Cách thực hiện : Lá tía tô thái chỉ, tức xắt nhỏ như sợi thuốc. Gạo cũ vo sạch. Cho gạo vào nồi với lượng nước vừa đủ nấu với lửa riu riu, khi cháo nhừ cho tía tô vào, nấu cho sôi tiếp một lát rồi nêm gia vị vừa ăn. Lượng dùng tùy sức

Trường hợp được dùng : dùng trong các trường hợp bị cảm do phong hàn kèm khí trệ, thể hiện các triệu chứng phát nhiệt, sợ lạnh, nhức đầu, không đổ mồ hôi, ho, tức ngực, buồn nôn, śnh bụng, ít ăn

Giải thích :
- Tía to cay tính ấm mà thơm tho là dược vị giải lư biểu, vừa tán phong hàn để giải lư vừa có thể lư khí hành trệ để trung ḥa. V́ thế tía tô vẫn được kể là dược vị có hai công năng hiệu nghiệm : trị cảm phong hàn và trị khí trệ
- Gạo cũ giúp tăng cường tác dụng trị bệnh của tía tô là một ḥa vị trợ cho tía tô có tác dụng đổ mồ hôi

3. Canh đậu phụ, đậu sị, hành :

Tác dụng : phát tán phong hàn, thơm tho thông khiếu

Vật liệu : đậu phụ (đậu hủ) 2-4 miếng, đậu sị 12g, đầu trắng hành lá 15g

Cách thực hiện : Đầu trắng hành lá đập dập. Đậu phụ chiên sơ. Cho đậu phụ đă chiên sơ vào nồi nấu cùng đậu sị và lượng nước vừa đủ. Nấu lửa mạnh cho sôi rồi giảm thành lửa riu riu nấu tiếp khoảng nửa giờ th́ cho đầu trắng hành lá vào. Khi bốc hơi thơm nhiều th́ nhắc xuống nêm nếm để dùng. Lượng dùng tùy sức

Trường hợp được dùng : món này được dùng cho những người bị cảm phong hàn xuất hiện triệu chứng nhức đầu nghẹt mũi, chảy nước mũi trong, hay hắc hơi, ho ngứa cổ họng, hơi sợ gió và không khát nước

Giải thích :
- Đậu sị vị cay ngọt, hơi đắng, tính b́nh có tác dụng tuyên tán biểu tà, là vị thuốc thường dùng trong việc trị cảm mạo
- Đầu trắng hành lá vị cay tính ấm, có thể phát hăn giải biểu, tán hàn thông dương, rất tốt trong việc thông khiếu, giảm nhức đầu nên thường hay được dùng vào khi cảm nghẹt mũi
- Đậu phụ rất giàu dinh dưỡng, tỉ lệ đạm có thể tiêu hóa đạt trên 90% nên rất tốt cho người bị cảm. V́ lúc này công năng tiêu hóa suy yếu nên ăn đậu phụ là chất dễ tiêu sẽ vừa được bổ sung dinh dưỡng vừa tăng cường thể chất, có lợi cho việc phục hồi sức khỏe

4. Đậu sị, ớt xanh xào lươn :

Tác dụng : phát tán phong hàn, ôn trung ḥa vị

Vật liệu : ớt xanh 120g, gừng tươi 4 lát, lươn 250g, đậu sị chút ít

Cách thực hiện : Ớt xanh cắt đôi ra bỏ hạt, xắt thành miếng. Gừng xắt thành miếng. Đậu sị giă nát. Lươn làm sạch, bỏ ruột gan, rút bỏ xương, dùng nước nóng trụng sơ cho ra hết máu, rửa lại cho sạch, chặt thành miếng, ướp gia vị. Bắt chảo mỡ nóng phi đậu sị cho thơm rồi cho ớt xanh vào xào cho tới gần chín (chín khoảng 8/10) th́ vớt ớt ra. Tiếp theo thêm chút mỡ phi gừng cho thơm rồi cho lươn vào xào chín. Sau khi lươn chín cho thêm ớt xanh vào xào sơ, nêm gia vị cho vừa ăn rồi quậy sốt bột năng đổ vào, đợi bột sền sệt th́ xúc ra đĩa để dùng. Lượng dùng tùy sức

Trường hợp được dùng : dùng khi bị cảm do phong hàn, xuất hiện triệu chứng như sợ lạnh, nhức đầu, không có mồ hôi, nhức ḿnh mẩy, śnh bụng. Cũng có thể dùng để chữa ói mửa do vị hàn

Giải thích :
- Ớt xanh vị cay nóng, có công năng phát hăn tán hàn, ôn trung kiện vị lại thêm có tác dụng khử phong thấp, có hiệu quả rất cao về trị cảm mạo do phong hàn, thấp
- Gừng tươi, đậu sị là các thứ giải biểu phát hăn, trợ cho ớt xanh phát hăn tán hàn để khử thấp tại biểu. V́ ớt xanh cay nóng mà khí táo, tính kích thích mạnh nên phải dùng chung với lươn để bổ hư phù chính khử tà lại vừa dùng vị ngọt để điều ḥa vị cay của ớt xanh
Chú ư : ớt xanh trong món ăn này có thể thay thế bằng ớt lồng đèn, tác dụng ḥa hoăn hơn, vị cay kém hơn, dễ dùng. Không thể dùng món này trong các trường hợp đổ mồ hôi nhiều, âm hư hỏa vượng, trĩ thấp nhiệt, nhiệt độc đau cuống họng

5. Cháo tang chi, cát căn :

Tác dụng : phát hăn giải biểu, thanh nhiệt thông lạc

Vật liệu : Tang chỉ (cành dâu) 30g, Cát căn tươi (sắn dây) 120g, Gạo cũ 30-60g

Cách thực hiện : Tang chi sắc lấy nước, bỏ bă thuốc. Cát căn tươi bỏ vỏ,xắt thành miếng nhỏ. Gạo cũ vo sạch. Đem gạo và cát căn cho vào nồi nước tang chi, nấu cháo với lửa riu riu. Khi cháo nhừ nêm gia vị cho vừa ăn. Lượng dùng tùy sức

Trường hợp được dùng : dùng trong các trường hợp bị cảm mạo do ngoại cảm phong thấp nhiệt, có triệu chứng phát nóng, hơi sợ gió, cổ lưng nhức nhối, nằm không chuyển ḿnh được, khát nước

Giải thích :
- Cát căn vị ngọt tính mát có tác dụng vừa phát hăn giải cơ để khử tà tại biểu vừa thanh nhiệt, giảm nhức mỏi có thể trị nhức mỏi cổ lưng, đồng thời giải khát, sinh tân dịch
- Tang chi, tức cành dâu non (dâu tằm ăn) vị đắng tính b́nh, có công năng thanh nhiệt trừ tê, khu phong thông lạc, dùng trị chân tay nhức mỏi phong thấp, tứ chi co quắp, đặc biệt rất hiệu nghiệm về trị nhức nhối của chi trên và phần cổ
- Gạo cũ vị ngọt tính b́nh, có tác dụng dưỡng vị ích tân dịch và ḥa hoăn vị đắng của Tang chi
- Món cháo này có tác dụng ḥa hoăn, già trẻ dùng đều được

6. Trứng gà xào gừng, hành lá :

Tác dụng : phát tán phong hàn, thơm tho khai vị

Vật liệu : trứng gà 3 quả, gừng tươi 30g, đầu trắng hành lá 4 tép

Cách thực hiện : Gừng tươi cạo sạch vỏ, ép lấy nước gừng. Đầu trắng hành lá thái hạt lựu. Đập trứng gà cho vào tô, trộn đều với nước gừng, hành xắt, thêm chút ít muối ăn. Bắt chảo mỡ, cho tất cả vật liệu vào xào vừa chín th́ lấy ra đĩa. Lượng ăn tùy sức

Trường hợp được dùng : món này  dùng chữa các chứng cảm do phong hàn xuất hiện triệu chứng nhức đầu nghẹt mũi, hơi sợ gió, ho, khan tiếng, kém ăn

Giải thích :
- Gừng tươi vị cay tính ấm vừa là thức ăn vừa là dược vị có công năng phát tán phong hàn, ôn trung kiện vị, tuyên phế giảm ho. Chất cay của gừng giúp thúc đẩy sự tuần hoàn máu, bài tiết mồ hôi, vừa có tác dụng khử hàn phát hăn vừa đẩy mạnh sự bài tiết của dịch vị để tĩnh vị kiện vị, tăng sức ăn
- Đầu trắng hành lá vị cay tính ấm, phát hăn giải biểu, tán hàn thông dương, rất tốt về thông tị khiếu, trị nhức đầu. Chất cay của hành lá có tác dụng dược lư là thông khiếu, khử đàm, phát hăn
- Gừng và hành lá dùng chung th́ ôn thông tán hàn, thơm tho kiện vị
- Có thêm trứng gà hỗ trợ, cả 3 sẽ hợp thành món ăn vừa giàu dinh dưỡng, không tư không trệ, rất hợp với người bị cảm, lại vừa ḥa hoăn các vị cay của gừng, hành lá nên bảo đảm tác dụng tán hàn kiện vị

7. Canh ngân hoa, đậu xanh :

Tác dụng : sơ thông phong nhiệt, thanh nhiệt giải độc

Vật liệu : Ngân hoa 24g, Đậu xanh 30g, Đạm Trúc diệp 10g

Cách thực hiện : Ngân hoa, Đạm Trúc diệp dùng vải bọc lại. Đậu xanh ngâm trong nước nửa giờ. Tiếp đó đem đậu cùng bọc đựng dược liệu Ngân hoa, đạm Trúc diệp cho vào nồi, thêm lượng nước vừa đủ, nấu lửa nhanh cho sôi rồi giảm lửa, nấu riu riu thêm khoảng 1 giờ, nêm gia vị cho vừa ăn. Lượng dùng tùy sức. Khi ăn có thể cho thêm một ít mật ong

Trường hợp được dùng : dùng trong các trường hợp bị cảm do phong nhiệt hoặc thử nhiệt, xuất hiện triệu chứng phát số dai dẳng, hơi sợ gió, nhức đầu đổ mồ hôi, cuống họng sưng đau, khô miệng, lượng nước tiểu ít

Giải thích :

- Ngân hoa c̣n có tên là Nhẫn Đông hoa, vị ngọt tính hàn, có công năng thanh nhiệt giải độc, tuyên thông tán tả, sơ tán thử nhiệt, rất hiệu nghiệm trong chủ trị các chứng can phong nhiệt hoặc thử nhiệt mà nhiệt độc hơi thịnh
- Đạm Trúc diệp có vị ngọt nhạt tính hàn, thanh nhiệt trừ phiền, sơ tán phong nhiệt có tác dụng trợ Ngân hoa để thanh nhiệt giải biểu
- Đậu xanh có tác dụng thanh nhiệt giải độc, lợi tiểu thanh thử, trừ phiền nhiệt

Chú ư : Không nên dùng món canh này trong các trường hợp can phong hàn, tỳ vị khí hư

8. Canh bí đao, lá sen, biển đậu :

Tác dụng : thanh nhiệt, giải thử, khử thấp, ḥa vị

Vật liệu : bí đao 500g, Biển đậu trắng 30g, lá sen tươi 15g

Cách thực hiện : Bí đao bỏ ruột giữ vỏ, xắt thành miếng nhỏ. Cho Biển đậu (tức đậu ván) và lá sen tươi vào nồi, chế nước vừa đủ, nấu lửa mạnh cho sôi. Tiếp đó cho Bí đao vào nấu tiếp với lửa riu riu trong khoảng từ 1-2 giờ th́ nêm gia vị cho vừa ăn. Lượng dùng tùy sức

Trường hợp được dùng : dùng trong các trường hợp can do thử thấp thể hiện qua các triệu chứng phát nóng, khát nước nhưng uống nước không nhiều, đầu căng đau nặng, tức ngực mệt mỏi, trong ḷng phiền muộn, nước tiểu ít

Giải thích :
- Bí đao có vị ngọt nhạt, tính hàn nhẹ, có tác dụng thanh nhiệt giải thử, lợi tiểu tiêu sứng rất hiệu nghiệm trong trợ chứng thử thấp. Vỏ bí cũng có thể dùng làm dược vị với công năng thanh nhiệt lợi tiểu
- Lá sen vị ngọt chát, tính hàn, có công năng thanh nhiệt giải thử, thơm tho trừ uế. Phối hợp lá sen với bí đao tác dụng thanh thử lợi thấp càng cao, thanh thử nhiệt mà trừ thấp trọc nên rất hiệu nghiệm trong chữa trị
- Biển đậu trắng có tác dụng kiện tỳ hóa thấp kiêm giải thử
- Đem 3 món hợp lại thành một món canh sẽ là món ăn đặc biệt thích hợp trong mùa hè v́ tính giải trừ thấp với hai tác dụng là ngoại thanh thử nhiệt, nội tiêu thử thấp

9. Canh Câu kỷ, Cúc hoa, Đậu xanh :

Tác dụng : sơ thông phong tà, thanh nhiệt giảm đau

Vật liệu : Câu kỷ diệp 100g, Cúc hoa 15g, Đậu xanh 30g

Cách thực hiện : Đậu xanh ngâm trong nước lạnh khoảng nửa giờ. Cho đậu xanh vào nồi, chế nước cho vừa đủ, nấu lửa mạnh cho sôi rồi giảm lửa thành riu riu nấu cho tới khi nhừ đậu. Khi đậu nhừ, cho Câu kỷ diệp và Cúc hoa vào nấu tiếp thêm chừng 10 phút th́ nêm gia vị cho vừa ăn. Lượng dùng tùy sức

Trường hợp được dùng : dùng trong các trường hợp cảm mạo nhức đầu do phong nhiệt, xuất hiện triệu chứng hơi bị nóng, nhức đầu khô cổ, khát nước hoặc đau cuống họng, nghẹt mũi, chảy mũi nước vàng đặc, mắt sưng đỏ

Giải thích :
- Câu kỷ diệp vị đắng nhẹ, tính b́nh, có công năng thanh nhiệt, minh mục, trị can nhiệt, phong nhiệt, mắt đỏ, nhức đầu rất hiệu nghiệm
- Cúc hoa vị đắng hơi ngọt, tính hàn nhẹ, vừa có tác dụng sơ phong thanh nhiệt, minh mục chỉ thống, vừa thượng hành sơ tán thượng tiêu phong nhiệt, thanh lợi đầu mục và giảm đau đầu
- Đậu xanh thanh nhiệt giải thử, lợi tiểu trừ phiền, dùng với dược vị trên để tăng cường công hiệu thanh nhiệt

10. Canh khổ qua, thịt nạc, lá sen :

Tác dụng : thanh nhiệt giải thử

Vật liệu : thịt heo nạc 120g, khổ qua 250g, lá sen tươi 30g

Cách thực hiện : Khổ qua bỏ ruột, xắt thành miếng. Lá sen tươi thái nhỏ. Thịt heo nạc xắt thành miếng nhỏ. Cho chung tất cả vào nồi chế nước vừa đủ, nấu lửa mạnh cho sôi rồi giảm lửa thành riu riu nấu tiếp 2 giờ, nêm gia vị vừa ăn. Lượng dùng tùy sức

Trường hợp được dùng : đây là món ăn rất cần trong trường hợp bị cảm do thử nhiệt, xuất hiện các triệu chứng đỏ mặt phát sốt, khát nước, trong ḷng phiền muộn, chân tay nặng nề, mệt mỏi, tức ngực, thẫn thờ, nước tiểu vàng và ít

Giải thích :
- Khổ qua vị đắng tính hàn, có công năng thanh nhiệt giải nắng, thanh tâm trừ phiền hiệu quả rất lớn về trị nhiệt bệnh hoặc khát nước do thử nhiệt
- Lá sen vị ngọt chát tính hàn, khí thanh hương, có công năng thanh giải nắng nóng, lợi tiểu trừ thấp và vẫn được xem là dược vị chủ yếu để giải nắng mùa hè. Các trường hợp bị nắng nóng lại thêm có thấp chữa bằng lá sen tươi luôn đạt kết quả tốt
- Thịt heo nạc vị ngọt tính b́nh, có công năng bổ hư nhuận táo, trị nhiệt bệnh khát nước, đồng thời là món ăn giàu chất dinh dưỡng
- Khi nấu chung với khổ qua và lá sen tươi, thịt heo nạc giúp điều ḥa mùi của canh, chế ước đắng hàn của khổ qua để giúp có một món ăn chữa bệnh lư tưởng

Chú ư : không thể dùng món này trong trường hợp tỳ vị hư hàn. Khi dùng canh để trị chứng nắng nóng có thấp lại thêm tức ngực mệt mỏi, đầu nặng, tay chân đau th́ nên thêm Ư dĩ tươi vào canh


--- Bổ dương - Bổ âm ngoại pháp ---

Các món ăn bổ dương

1. Canh gà ôn bổ :

Tác dụng : bổ ích tỳ vị

Vật liệu : Gà trống 1 con, Đảng sâm 30g, Quế b́ 5g, Thảo quả 3g, Gừng khô 10g, Trần b́ 5g, Hạt tiêu 10 hạt, một ít hành lá, nước tương, muối ăn

Cách thực hiện : Gà trống làm sạch, mổ bụng lấy bộ đồ ḷng ra. Cho gà, Quế b́, Gừng khô, Đảng sâm, Thảo quả, Trần b́, Hạt tiêu vào nồi một lượt, thêm nước vừa đủ, nấu đến thịt gà chín mềm, vớt bỏ xác thuốc, thêm hành lá (xắt hạt lựu) vào, nêm muối ăn cho vừa miệng. Dùng cả canh lẫn cái

Trường hợp được dùng : thích hợp với các chứng bệnh như tỳ vị dương hư hoặc ngực bụng (vùng dạ dày) đau ngấm ngầm, ăn uống kém do khí hư thị hàn gây ra

Giải thích :
- Quế b́ khư phong trục hàn
- Đảng sâm kiện tỳ sinh huyết, bổ trung ích khí
- Gừng khô ôn trung cầm mửa
- Thảo quả, Trần b́ kiện tỳ hóa đờm
- Gà ích khí dưỡng huyết
- Hạt tiêu ôn trung tán hàn, khai vị

2. Cháo thịt dê :

Tác dụng : ích khí huyết, bổ hư tổn, ôn tỳ vị

Vật liệu : Thịt dê tươi 150-250g, gạo tẻ lượng vừa

Cách thực hiện : Gạo vo sạch. Cho gạo, thịt dê vào nồi, thêm lượng nước vừa đủ, nấu cháo đến khi thịt dê chín mềm, nêm một ít muối ăn, bột ngọt cho vừa ăn. Dùng lúc sáng sớm, bữa tối lúc cháo c̣n nóng. Món cháo này thích hợp dùng vào thu đông

Trường hợp được dùng : những người lớn tuổi do dương khí bất túc, sợ lạnh, yếu lưng gối, khí huyết suy tổn, cơ thể gầy yếu, tỳ vị hư hàn, ợ chua

Giải thích :
- Thịt dê dưỡng huyết bổ can
- Gạo tẻ dưỡng vị ích tâm

Chú ư : trong thời gian dùng cháo thịt dê kỵ không nên dùng vị Bán hạ hoặc Xương bồ


Các món ăn bổ âm

1. Canh ngũ nguyên toàn kê :

Tác dụng : bổ huyết dưỡng âm, ích tinh minh mục

Vật liệu : Gà mái 1 con, Hạt sen 15g, Quế viên 15g, Câu kỷ tử 15g, Táo đen 15g, Đường phèn 30g, Trái vải tươi 15g

Cách thực hiện : Gà làm sạch, mổ bụng lấy bộ đồ ḷng ra. Cho gà vào thố một lượt với Quế viên, Trái vải (bỏ vỏ, hạt), hạt sen (bỏ nhụy), Táo đen, thêm đường phèn, ít muối ăn và lượng nước vừa đủ vào thố, rồi đem chưng 2 giờ, lại thêm Câu kỷ tử vào, chưng tiếp 5 phút, lấy ra thố, rắc một ít tiêu vào. Dùng vào bữa ăn, lượng ăn tùy sức

Trường hợp được dùng : món canh này thích hợp chứng bệnh huyết khí hư nhược, ù tai, mặt mày xanh xao, cơ thể suy yếu sau cơn bệnh

Giải thích :
- Quế viên (nhăn nhục) bổ tâm tỳ, dưỡng huyết an thần
- Trái vải lư khí tán hàn, cầm đau
- Táo đen, Hạt sen an thần kiện tỳ
- Câu kỷ tử dưỡng âm bổ huyết, bổ can thận
- Đường phèn nhuận phế, thanh nhiệt

2. Gà hầm sinh địa, mạch nha :

Tác dụng : dưỡng âm ôn trung, ích khí bổ tủy

Vật liệu : Gà mái 1 con, Sinh địa 30g, Mạch nha 100g, một ít hành lá, gừng, muối ăn

Cách thực hiện : Hành lá cắt khúc, gừng xắt lát. Gà làm sạch, móc bỏ bộ đồ ḷng ra, dồn Sinh địa, hành lá, gừng và một ít muốn ăn vào bụng gà, lại đổ thêm mạch nha vào, dùng kim may kín lại. Cho gà vào thố, bụng gà hướng lên trên, thêm lượng nước trong vừa đủ vào, đem hầm với lửa riu riu đến thịt chín mềm. Dùng vào bữa ăn, lượng ăn tùy sức

Trường hợp được dùng : món ăn này thích hợp cho người bệnh lâu ngày, cơ thể suy yếu, người gầy yếu, bị sốt nhẹ, đổ mồ hôi trộm

Giải thích :
- Sinh địa tư dưỡng âm huyết
- Mạch nha ích khí bổ hư
- Thịt gà ích khí dưỡng huyết

Các món canh tráng dương bổ thận

Triệu chứng : Dương suy yếu nhược, ù tai chóng mặt, đổ mồ hôi trộm, tay chân lạnh, phù thũng, trí nhớ kém, lú lẫn, nhức mỏi, đau lưng, tiểu đêm nhiều lần, di tinh, mộng hoạt tinh, ...

1. Canh khiếm thực, liên tử, phục thần :

Tác dụng : bổ ích tâm thận, thu liễm cầm tả

Vật liệu : Khiếm thực 20g, Liên tử (hạt sen) 40g, Phục thần 20g, Đường cát trắng 1 muỗng

Cách thực hiện : Khiếm thực, Phục thần ngâm nước lạnh trong hai tô nửa giờ. Liên tử ngâm trong nước ấm 1 giờ. Cho Khiếm thực, Liên tử, Phục thần vào nồi, thêm nước vừa đủ, nấu với lửa dịu trong 1 giờ. Thêm đường cát trắng vào, nấu tiếp 1 giờ, cho đến khi Khiếm thực, Liên tử mềm nhừ

Cách dùng : vớt bỏ Phục thần, dùng cả nước lẫn cái

Trường hợp được dùng : suy nhược thần kinh, đêm ngủ không yên, di tinh, tiêu chảy

Giải thích :
- Liên tử vừa bổ ích vừa thu liễm, đặc biệt thích hợp với tỳ vị, kiêm dưỡng tâm ích thận, các chứng tỳ hư tiết tả, thận khuy di tinh và tâm thận bất giao dẫn đến tim hồi hộp, mất ngủ đều có thể dùng
- Phục thần ninh tâm an thần, chuyên dùng cho chứng tâm thần bất an, sợ hăi
- Tất cả nấu chung với Khiếm thực có công hiệu dưỡng tâm ích thận, an thần cầm tiết

2. Canh trứng bồ câu, câu kỷ, hải sâm :

Tác dụng : bổ  thận, dưỡng âm, sáng mắt

Vật liệu : Câu kỷ tử 20g, trứng bồ câu 12 quả, Hải sâm 2 con, súp gà 1 tô, một ít muối ăn, bột ngọt, tiêu

Cách thực hiện : Hải sâm ngâm nước cho mềm, làm sạch. Trứng bồ câu luộc chín, bóc vỏ. Cho Câu kỷ tử, Hải sâm và súp gà vào nồi, thêm nước vừa đủ, nấu cho sôi rồi thêm trứng bồ câu, nêm chút muối ăn, bột ngọt, tiêu cho vừa ăn, hầm tiếp vài giây, nhắc xuống

Cách dùng : mỗi ngày 1 thang, dùng cả canh lẫn cái

Trường hợp được dùng : thận hư dẫn đến dương suy, di tinh, đau lưng mỏi gối, đi tiểu nhiều, ù tai, chóng mặt hoa mắt do can thận tinh khuy, thị lực giảm, trí nhớ kém và cơ thể suy yếu hoặc cơ thể hư nhược sau khi bệnh

Giải thích :
- Câu kỷ tử dưỡng tâm bổ huyết, tư bổ can thận ích tinh minh mục, kiện năo
- Hải sâm, trứng bồ câu đều bổ thận ích tinh
- Trong món canh này lại thêm vào súp gà để tăng thêm dinh dưỡng, bổ khí huyết, có công tư âm bổ thận, ích tinh minh mục và khỏe người

3. Canh thịt dê, gừng tươi, đậu đen :

Tác dụng : bổ thận, kiện tỳ tiêu thũng

Vật liệu : Gừng tươi 15g, Đậu đen 30g, Thịt dê 500g

Cách thực hiện : Thịt dê xắt miếng. Gừng tươi xắt lát. Cho tất cả vật liệu vào nồi, thêm nước vừa đủ, hầm nửa buổi, đến khi c̣n khoảng một chén canh là vừa.

Cách dùng : chia làm nhiều lần, uống nóng

Trường hợp được dùng : bệnh phù thũng do thận hư như toàn thân bị phù thũng, nhất là bán thân dưới thũng nặng hơn, sắc mặt xanh xao, lạnh tay chân, tiểu tiện khó, không khát nước

Giải thích :
- Thịt dê vị ngọt tính ấm, bổ khí dưỡng huyết, ôn trung hoăn hạ
- Đậu đen là thực phẩm lợi tiểu tiêu thũng
- Gừng vị cay tính ấm, vào ba kinh phế, tỳ vị
- Món canh này có công năng ôn hóa hàn đàm

4. Canh thận heo, hồ đào :

Tác dụng : bổ thận mạnh lưng khỏe gối

Vật liệu : Thận heo 2 quả, Hồ đào nhân 10g, Sơn du nhục 10g

Cách thực hiện : Thận heo làm sạch xắt miếng. Cho tất cả vật liệu vào nồi, thêm nước vừa đủ, nấu đến khi thận heo chín, nêm gia vị cho vừa ăn

Cách dùng : dùng cả canh lẫn cái

Trường hợp được dùng : thích hợp các chứng đau lưng do thận hư, lao tổn cơ lưng măn tính, ù tai do thận hư, di tinh

Giải thích :
- Sơn du nhục vừa có tính chất thu liễm để giữ tinh khí, cố nhiếp hạ nguyên, vừa bổ ích can thận để tư dưỡng tinh huyết mà giúp sự bất túc của nguyên dương
- Hồ đào nhân bổ thận trợ dương, mạnh lưng khỏe gối
- Thận heo có tác dụng bổ thận, nấu chung với Sơn du nhục, Hồ đào nhân đạt được công hiệu bổ thận cố tinh

5. Canh cật dê, hồi hương, đậu - trọng :

Tác dụng : bổ thận, mạnh gân cốt

Vật liệu : Cật dê 2 quả, Tiểu hồi hương 8g, Đậu đen 100g, Đỗ trọng 15g

Cách thực hiện : Cật dê làm sạch, xắt miếng nhỏ. Cho tất cả vật liệu vào nồi, thêm lượng nước vừa đủ, nấu 30 phút rồi nêm gia vị cho vừa ăn.

Cách dùng : vớt bỏ bă thuốc, dùng cả nước lẫn cái, mỗi ngày 1 thang liên tục 3-5 ngày

Trường hợp được dùng : đau lưng, yếu chân mỏi gối do thận hư

Giải thích :
- Đỗ trọng vị ngọt tính ấm, bổ can thận, mạnh gân cốt, thường dùng chữa đau sống lưng, yếu chân gối
- Đậu đen vị ngọt tính b́nh, có công năng khu phong, thường dùng chữa đau khớp xương
- Cật dê vị ngọt tính ấm, bổ thận khí, ích tinh tủy, chữa sống lưng mỏi đau, chân gối yếu
- Dùng chung với Hồi hương có công hiệu bổ can thận, mạnh gân cốt
Chú ư : kiêng dùng món ăn mát lạnh

6. Canh bồ câu, trùng thảo :

Tác dụng : ích khí dưỡng huyết, bồi bổ suy nhược

Vật liệu : Bồ câu 2 con, Đông trùng hạ thảo 30g, một ít muối ăn bột ngọt

Cách thực hiện : Bồ câu làm sạch, bỏ bộ đồ ḷng, chặt miếng. Cho bồ câu, Đông trùng hạ thảo vào nồi, thêm nước vừa đủ và một ít muối ăn, hầm đến Bồ câu chín, rắc thêm ít bột ngọt cho vừa ăn

Cách dùng : dùng cả canh lẫn thịt bồ câu, món này chia làm 2 phần dùng trong ngày

Trường hợp được dùng : do thận hư dẫn đến chứng dương suy di tinh, đau lưng mỏi gối, ngắn hơi mệt mỏi, trí nhớ kém, đổ mồ hôi

Giải thích :
- Đông trùng hạ thảo ích thận dương, dùng chữa đau lưng, mỏi gối, dương suy, di tinh
- Thịt bồ câu vị ngọt mặn tính b́nh, có công năng bổ thận ích khí, kiện tỳ bổ trung, giải độc tiêu ung
- Món canh này có công hiệu bổ hư tổn, ích khí huyết, tăng tinh tủy

7. Canh thận heo, đỗ trọng :

Tác dụng : bổ can thận, mạnh lưng khỏe gối

Vật liệu : thận heo 1 quả, Đỗ trọng 15-20g

Cách thực hiện : Thận heo làm sạch bổ đôi. Cho tất cả vật liệu vào nồi, thêm nước vừa đủ, đem chưng cách thủy đến khi thận heo vừa chín, vớt bỏ bă thuốc, uống canh ăn thận

Cách dùng : mỗi ngày 1 thang, dùng liên tục 5-7 ngày

Trường hợp được dùng : dùng cho trường hợp thận khí suy tổn, dương suy, di tinh, đau lưng mỏi gối

Giải thích :
- Đỗ trọng vị ngọt tính ấm, bổ can thận, mạnh gân cốt, thường dùng chữa đau lưng mỏi gối do thận hư
- Thận heo vị mặn tính b́nh, bổ thận khí, thông bàng quang, tiêu tích trệ, tiêu khát, lợi tiểu

8. Canh thận heo, quy - sâm, sơn dược :

Tác dụng : dưỡng huyết, ích khí, bổ thận

Vật liệu : Thận heo 1 quả 500g, Đảng sâm 10g, Đương quy 10g, Sơn dược 10g

Cách thực hiện : Thận heo bổ đôi, làm sạch. Đương quy, Đảng sâm, Sơn dược bỏ vào túi vải rồi buộc miệng túi lại. Cho tất cả vật liệu vào nồi, thêm nước vừa đủ, nấu với lửa diệu đến khi thận heo chính, vớt Thận heo ra, nêm gia vị cho vừa ăn

Cách dùng : vớt bỏ Phục thần, dùng cả nước lẫn cái

Trường hợp được dùng : suy nhược thần kinh, đêm ngủ không yên, di tinh, tiêu chảy

Giải thích :
- Liên tử vừa bổ ích vừa thu liễm, đặc biệt thích hợp với tỳ vị, kiêm dưỡng tâm ích thận, các chứng tỳ hư tiết tả, thận khuy di tinh và tâm thận bất giao dẫn đến tim hồi hộp, mất ngủ đều có thể dùng
- Phục thần ninh tâm an thần, chuyên dùng cho chứng tâm thần bất an, sợ hăi
- Tất cả nấu chung với Khiếm thực có công hiệu dưỡng tâm ích thận, an thần cầm tiết

1. Canh khiếm thực, liên tử, phục thần :

Tác dụng : bổ ích tâm thận, thu liễm cầm tả

Vật liệu : Khiếm thực 20g, Liên tử (hạt sen) 40g, Phục thần 20g, Đường cát trắng 1 muỗng

Cách thực hiện :
- Khiếm thực, Phục thần rửa sạch ngâm nước lạnh trong hai tô nửa giờ
- Liên tử ngâm trong nước ấm 1 giờ
- Cho Khiếm thực, Liên tử, Phục thần vào nồi, thêm nước vừa đủ, nấu với lửa dịu trong 1 giờ. Thêm đường cát trắng vào, nấu tiếp 1 giờ, cho đến khi Khiếm thực, Liên tử mềm nhừ
Cách dùng : vớt bỏ Phục thần, dùng cả nước lẫn cái

Trường hợp được dùng : suy nhược thần kinh, đêm ngủ không yên, di tinh, tiêu chảy

Giải thích :
- Liên tử vừa bổ ích vừa thu liễm, đặc biệt thích hợp với tỳ vị, kiêm dưỡng tâm ích thận, các chứng tỳ hư tiết tả, thận khuy di tinh và tâm thận bất giao dẫn đến tim hồi hộp, mất ngủ đều có thể dùng
- Phục thần ninh tâm an thần, chuyên dùng cho chứng tâm thần bất an, sợ hăi
- Tất cả nấu chung với Khiếm thực có công hiệu dưỡng tâm ích thận, an thần cầm tiết

1. Canh khiếm thực, liên tử, phục thần :

Tác dụng : bổ ích tâm thận, thu liễm cầm tả

Vật liệu : Khiếm thực 20g, Liên tử (hạt sen) 40g, Phục thần 20g, Đường cát trắng 1 muỗng

Cách thực hiện :
- Khiếm thực, Phục thần rửa sạch ngâm nước lạnh trong hai tô nửa giờ
- Liên tử ngâm trong nước ấm 1 giờ
- Cho Khiếm thực, Liên tử, Phục thần vào nồi, thêm nước vừa đủ, nấu với lửa dịu trong 1 giờ. Thêm đường cát trắng vào, nấu tiếp 1 giờ, cho đến khi Khiếm thực, Liên tử mềm nhừ
Cách dùng : vớt bỏ Phục thần, dùng cả nước lẫn cái

Trường hợp được dùng : suy nhược thần kinh, đêm ngủ không yên, di tinh, tiêu chảy

Giải thích :
- Liên tử vừa bổ ích vừa thu liễm, đặc biệt thích hợp với tỳ vị, kiêm dưỡng tâm ích thận, các chứng tỳ hư tiết tả, thận khuy di tinh và tâm thận bất giao dẫn đến tim hồi hộp, mất ngủ đều có thể dùng
- Phục thần ninh tâm an thần, chuyên dùng cho chứng tâm thần bất an, sợ hăi
- Tất cả nấu chung với Khiếm thực có công hiệu dưỡng tâm ích thận, an thần cầm tiết

--- Dược phương ---

(Những bài thuốc kinh nghiệm mà các lương y xưa hay dùng trên lâm sàng, bài bản đơn giản nhưng rất hiệu nghiệm, lại không nguy hiểm)

       
      Trúng phong
       
        Y thư tạp bệnh các khoa
Những bài thần nghiệm soạn ra để truyền
        Trúng phong chứng ấy luận tiên
Hễ ai phải gió thoạt liền ngă ngay
        Giật chân méo miệng co tay
Đàm diên cấm khẩu không hay sợ người
        "Thông quan" (1) liền thấy hắt hơi
"Tỉnh phong thang" (2) ấy đốc thôi đổ vào
        "Thông quan" chẳng thấy hắt hơi
Ấy là nhập lư chữa sao cho lành
        Trúng đàm, trúng khí, trúng kinh
Trúng tạng, trùng phủ cho tinh từng loài
        C̣n chứng méo miệng so vai
Bán thân bất toại như bài trúng phong
        Trúng phủ b́ nhiệt mạch hồng
Sơ phát hăy dùng bài "Tán tà thang" (3)
        Vô hăn bội gia Ma hoàng
Hữu hăn gia Quế, Trúc, Khương, Hoàng cầm
        Trúng tạng khiếu bế mạch trầm
Nhị tiện bế kết chứng âm chỉn nghèo
        Làm bài "Tam hóa" (4) lợi tiêu
"Khương hoạt đạo trệ" (5) đôi liều liền thông
        Trúng kinh nhị tiện ḥa thông
Vô biểu lư chứng hợp dùng "Tần giao" (6)
        Trúng khí mạch trầm tế sao
B́ hàn cốt tiết nhức đau nhiều bề
        "Ô dước thuận khí" (7) Khung, Quy
Trúc Lịch, Khương trấp chế th́ phong tiêu
        Trúng đàm mạch sáp nhiệt nhiều
Dùng bài "Thông Thánh" (8) chê điều Trúc, Khương
        Trúng đàm mạch hoạt thân lương
Nặng ḿnh bên tả dùng phương "Đạo đàm" (9)
        Sưu phong, Thuận khí, Chiêu thang
Hợp làm Ḥe giác, Chiêu tàm, Nhân sâm
        Thiên ma, Kinh giới, Bán, Nam
Trần b́, Bạch phàn, Thần sa vi y
        Trúc lịch, Khương trấp gia chi
"Ôn thang" (10) tống hạ uống th́ hiệu thay
        Mái tả dùng "Tứ vật" (11) nay
"Nhị trần" mái hữu hợp bài "Lục quân" (12)
        Trúc lịch, Khương trấp liệu phân
Chế vào mà uống bệnh dần b́nh an.

Các dược phương :

1. Thông quan tán :

- Tế tân, Tạo giác (bỏ hạt) : các vị bằng nhau
- Bán hạ (sống) : một ít
Tất cả tán thành bột mịn, thổi vào mũi mỗi lần chút ít, thấy hắt hơi là tốt, nếu không th́ luận cách khác

2. Tỉnh phong thang :

- Pḥng phong : 4 lượng
- Nam tinh : 4 lượng
- Bán hạ : 2 lượng
- Hoàng cầm : 2 lượng
- Cam thảo : 1 lượng
- Gừng sống : 10 lát
Tất cả nấu sắc lấy nước uống

3. Tán tà thang :

- Pḥng phong : 3 lượng
- Khương hoạt : 3 lượng
- Cam thảo : 1 phân
- Xạ hương : 1 ly
Ḥa vào uống

4. Tam hóa thang :

- Hậu phác, Chỉ thực, Khương hoạt, Đại hoàng : mỗi loại 2 đồng
Sắc uống

5. Khương hoạt đạo trệ thang :

- Khương hoạt, Độc hoạt :mỗi loại 1 đồng
Sắc uống

6. Tần giao thang :

- Tần giao : 1 đồng rưỡi
- Thạch cao : 1 đồng rưỡi
- Khương hoạt : 1 đồng
- Độc hoạt : 1 đồng
- Xuyên khung : 1 đồng
- Bạch chỉ : 1 đồng
- Cam thảo : 1 đồng
- Sinh địa : 1 đồng
- Thục địa : 1 đồng
- Đương quy : 1 đồng
- Bạch thược : 1 đồng
- Hoàng cầm : 1 đồng
- Phục linh : 1 đồng
- Pḥng phong : 1 đồng
- Bạch truật : 1 đồng
- Tế tân : 2 đồng
Sắc uống lúc c̣n nóng. Nếu bụng dưới bị bí : gia Chỉ thực

7. Ô dước thuận khí thang :

- Ô dước : 1 đồng
- Trần b́ : 1 đồng
- Can khương : 3 phân rưỡi
- Chỉ xác : 5 phân
- Cương tàm : 5 phân
- Xuyên khung : 5 phân
- Bạch chỉ : 5 phân
- Cát cánh : 5 phân
- Cam thảo : 5 phân
- Ma hoàng : 1 đồng
- Sinh khương : 3 lát
- Đại táo : 2 quả
Tất cả sắc uống ấm

8. Pḥng phong thông thánh tán :

- Pḥng phong : 3 phân
- Xuyên khung : 3 phân
- Đương quy : 3 phân
- Bạch thược : 3 phân
- Đại hoàng : 3 phân
- Phác tiêu : 3 phân
- Liên kiều : 3 phân
- Bạc hà : 3 phân
- Ma hoàng : 3 phân
- Thạch cao : 5 phân
- Hoàng cầm : 5 phân
- Cát cánh : 5 phân
- Hoạt thạch : 1 đồng rưỡi
- Kinh giới : 1 phân
- Bạch truật : 1 phân
- Sơn chi : 1 phân
- Cam thảo : 1 đồng
Tất cả sắc uống nóng

9. Đạo đàm thang :

- Ḥe giác : 2 lượng
- Nhân sâm : 2 lượng
- Cương tàm : 2 lượng
- Thiên ma : 2 lượng
- Kinh giới : 2 lượng
- Bán hạ : 2 lượng
- Nam tinh : 2 lượng
- Trần b́ : 2 lượng
- Bạch phàn : 1 lượng
- Thần sa : 5 đồng
Các vị tán bột mịn, hồ viên bằng hạt ngô. Dùng Thần sa làm áo. Lần uống 30 viên với nước cốt gừng

10. Hóa đờm hoàn :

- Nhân sâm : 3 đồng
- Tạo giác : 2 đồng
- Khương tàm : 2 đồng
- Thiên ma : 1 đồng
- Kinh giới : 1 đồng
- Bán hạ : 1 đồng
- Trần b́ : đồng rưỡi
Các vị tán mịn, luyện với hồ, viên bằng cúc áo, uống mỗi lần 3 viên bằng nước gừng ấm. Làm áo thuốc bằng Bạch phàn và Chu sa, lăn cho kỹ mà phơi khô mới được

11. Tứ vật gia giảm :

Như cảm phong mà đau nhức về nửa ḿnh bên tả th́ dùng bài "Tứ vật gia giảm" này
- Thục địa : 3 đồng
- Đương quy : 2 đồng
- Bạch thược : 2 đồng
- Xuyên khung : 2 đồng
- Pḥng phong : đồng rưỡi
- Khương hoạt : 1 đồng
Tính nhiệt gia :
- Hoàng cầm : 1 đồng
Tính táo gia :
- Thiên môn : 1 đồng
Tính hàn gia :
- Quan quế : 5 phân
- Thán khương : 5 phân
Đau bụng gia :
- Mộc hương : 5 phân
- Huyền hồ : 7 phân
- Hương phụ : 5 phân
- Nga truật : 3 phân
Sắc kỹ uống

12. Nhị trần hợp Lục quân :

Như cảm phong mà đau nhức nửa ḿnh bên hữu th́ dùng bài "Nhị trần" hợp bài "Lục quân" này
- Trần b́ : 2 đồng
- Bán hạ : 1 đồng
- Phục linh : 1 đồng
- Pḥng phong : 1 đồng
- Nam tinh : 5 phân
- Liên kiều : 5 phân
- Hoàng cầm : 1 đồng
- Hương phụ : 8 phân
- Cam thảo : 5 phân
- Sinh khương : 3 lát
Tính nhiệt lắm đờm gia :
- Thương truật : 5 phân
Tính hàn gia :
- Quế quan : 5 phân
Sắc kỹ uống

      Thương hàn
       
        Phong rồi lại luận thương hàn
Nhức đầu sốt rét ho hen khí tà
        Tỵ tắc nước mũi chảy ra
Bài "Sâm tô ẩm" (13)  lại gia Tang b́
        Nhức đầu sốt rét li b́
Mồ hôi chẳng có tứ chi đau đần
        Dùng bài "Giải cơ cát căn" (14)
Hợp thang "Thập thần" (15), Ma hoàng, Quế chi
        Quế, Ma hay dụng đông th́
Bốn mùa thùy chứng thu hè cũng nên
        Mới phải th́ sốt rét lên
"Quế chi" (16) gia giảm chính truyền thậm hay
        Nhức đầu ớn rét thâu ngày
Mồ hôi chẳng có hợp nay "Ma hoàng" (17)
        Lưỡi khô miệng ráo tai vang
Tức đầy mỏ ác dùng thang "Tiểu sài" (18)
        Buồn bực khát nước thở dài
Năng đi tiểu vặt dụng bài "Ngũ linh" (19)
        Mạch trầm truyền đến lư kinh
Mơ màng buồn bực nhiệt hành ư trung
        Nhị tiện bế kết chẳng thông
Táo phiền hoảng hốt nói dông nói quàng
        "Đại sài" (20), "Thừa khí" (21) đôi thang
Uống vào thấy lợi hoạt tràng liền yên
        Hoặc là miệng ứ tựa điên
Nói nhàm nói nhảm cả đêm cả ngày
        Chẳng ăn chẳng uống như ngây
Dùng bài "Tê giác" (22) uống rày lại yên

13. Sâm tô ẩm thang :

- Phục linh : 2 đồng
- Tiền hồ : 1 đồng
- Can cát : 7 phân
- Bán hạ : 5 phân
- Trần b́ : 7 phân
- Chỉ xác : 5 phân
- Mộc hương : 5 phân
- Cam thảo : 5 phân
- Đại táo : 2 quả
- Tử tô : 7 phân
- Sinh khương : 3 lát
Ho suyễn gia :
- Tang bạch b́ (tẩm mật) : 1 đồng
- Hạnh nhân : 5 phân
- Ma hoàng : 5 phân
Các vị sắc kỹ mà uống cho ra mồ hôi là khỏi

14. Giải cơ cát căn thang :

- Quế chi : 1 đồng
- Xuyên khung : 1 đồng
- Bạch chỉ : 5 phân
- Khương hoạt : 7 phân
- Cảo bản : 7 phân
- Hạnh nhân : 5 phân
- Tử tô : 5 phân
- Cam thảo : 5 phân
- Sinh khương : 3 lát
Các vị sắc kỹ mà uống nóng rồi lấy chăn đắp kín cho ra mồ hồi là khỏi.
Khi uống bài này không bớt, 3 bài sau thay đổi mà dùng

15. Thập thần thang :

- Thang ma : 1 đồng
- Xuyên khung : 1đồng
- Ma hoàng : 1 đồng
- Bạch chỉ : 5 phân
- Xích thược : 7 phân
- Can cát : 5 phân
- Trần b́ : 7 phân
- Cam thảo : 5 phân
- Hương phụ : 5 phân
- Tử tô : 5 phân
- Đại táo : 3 quả
- Sinh khương : 3 lát
Các vị sắc kỹ mà uống cho ra mồ hôi là khỏi

16. Quế chi thang :

- Quế chi : 1 đồng
- Bạch thược : 1 đồng
- Xuyên khung : 1 đồng
- Pḥng phong : 1 đồng
- Khương hoạt : 1 đồng
- Sài hồ : 7 phân
- Cam thảo : 5 phân
- Đại táo : 3 quả
- Sinh khương : 3 lát
Các vị sắc kỹ mà uống cho ra mồ hôi là khỏi

17. Ma hoàng thang :

- Ma hoàng : 1 đồng
- Quế chi : 7 phân
- Xuyên khung : 5 phân
- Thăng ma : 5 phân
- Bạch chỉ : 5 phân
- Khương hoạt : 1 đồng
- Cam thảo : 5 phân
- Hạnh nhân : 5 phân
- Sinh khương : 3 lát
Các vị sắc kỹ mà uống cho ra mồ hôi là khỏi

18. Tiểu sài hồ thang :

- Sài hồ : 5 phân
- Hoàng cầm : 5 phân
- Nhân sâm : 3 phân
- Bán hạ : 3 phân
- Cam thảo : 3 phân
- Đại táo : 3 quả
- Sinh khương : 3 lát
Đau một bên sườn gia :
- Thanh b́ : 3 phân
- Chỉ xác : 3 phân
Nhức đầu gia :
- Xuyên khung : 5 phân
- Bạch chỉ : 3 phân
Các vị sắc kỹ, uống nóng

19. Ngũ linh thang :

- Phục linh : 2 đồng
- Trư linh : 2 đồng
- Bạch truật : 2 đồng
- Trạch tá : 2 đồng
- Quế chi : 5 phân
- Sinh khương : 3 lát
Ói mửa gia :
- Hoạt thạch : 3 phân
- Chi tử : 3 quả
- Đăng tâm : 1 nắm
- Muối : vài hạt
Các vị sắc kỹ, uống nóng

20. Đại sài hồ thang :

Như chứng thương hàn ngoại cảm mà buồn bực không ngủ được, ở trong nóng lắm th́ dùng thang này
- Sài hồ : 2 đồng
- Hoàng cầm : 1 đồng
- Bán hạ chế : 1 đồng
- Chỉ xác : 1 đồng
- Bạch thược : 1 đồng
- Đại hoàng : 2 đồng
- Đại táo : 3 quả
- Sinh khương : 3 lát
Các vị sắc gần được th́ bỏ Đại hoàng vào đun sôi lên mà uống nóng

21. Đại thừa khí thang :

Như đại tiểu tiện bí kết phát phiền sinh ra nói nhảm nhí th́ dùng thang này
- Hậu phác : 2 đồng rưỡi
- Chỉ xác : 2 đồng rưỡi
Hai vị sắc sôi ba sập rồi bỏ Đại hoàng, Phác tiêu mỗi vị 2 đồng rồi lại đun sôi một sập đem ra uống nóng. Hễ thấy lợi nhị tiện rồi th́ không uống nữa

22. Tê giác thang :

Như chứng cảm mà cứ ứ lên miệng sinh nói nhảm suốt ngày đêm, ăn ngủ không yên, như ma làm th́ dùng thang này
- Tê giác : 2 đồng
- Mẫu đơn : 2 đồng
- Bạch thược : đồng rưỡi
- Cát cánh : 1 đồng
- Cam thảo : 5 phân
- Sinh địa : 3 đồng
- Đương quy : 2 đồng
- Trần b́ : 1 đồng
- Hồng hoa : 1 đồng

   Ôn dịch thời khí
       
        Ôn dịch là chứng nhiễm truyền
Nhức đầu sốt rét đau liền tứ chi
        Sưng tay sưng mặt càng ghê
"Kinh pḥng bại độc" (23) tức th́ uống tiên
    "Tị ôn" (24) phương thuốc thần tiên
Dùng được như ư chí huyền nghiệm thay
        Phong hàn thử thấp kể bày
Phong thấp mặt mũi đẫm đầy mồ hôi
        "Pḥng kỷ Hoàng kỳ" (25) uống thôi
Với thang "Truật phụ" (26) lại hồi dương phân

23. Kinh pḥng bại độc thang :

Chứng ôn dịch truyền nhiễm hay sinh ra bệnh nhức đầu, sốt rét, chân tay nhức nhối, sưng mũi th́ dùng thang này
- Kinh giới : 1 đồng
- Pḥng phong : 1 đồng
- Khương hoạt : đồng rưỡi
- Sài hồ :  1 đồng
- Tiền hồ : 1 đồng
- Chỉ xác : 5 phân
- Cát cánh : 7 phân
- Nhân sâm : 1 đồng
- Phục linh : 1 đồng
- Ngưu bàng : 1 đồng
- Liên kiều : 5 phân
- Xích thược : 5 phân
- Cam thảo : 5 phân
- Sinh khương : 3 lát
Các vị sắc kỹ, uống nóng
Nếu không bớt th́ dùng bài "Tị ôn"

24. Tị ôn hoàn :

- Hùng hoàng : 1 lượng
- Xích đậu : 1 lượng
- Quỹ tiển ; 5 phân
- Đan sâm : 5 phân
Các vị tán mịn mà luyện với mật rồi viên bằng cúc áo, mỗi lần uống 5 viên, dẫn thuốc bằng trà nóng

25. Pḥng kỷ Hoàng kỳ thang :

Chứng cảm mạo phong hàn thử thấp, trên mặt hay ra mồ hôi th́ dùng thang này
- Pḥng kỷ : 2 đồng
- Hoàng kỳ : 2 đồng
- Bạch truật : đồng rưỡi
- Cam thảo : 7 phân
- Sinh khương : 3 lát
Sắc kỹ uống nóng. Nếu không đỡ th́ dùng "Truật phụ thang"

26. Truật phụ thang :

- Bạch truật : 1 đồng
- Phụ tử : 1 đồng
- Khương hoạt : 5 phân
- Xuyên khung : 5 phân
- Quế tâm : 3 phân
- Đại táo : 3 quả
- Sinh khương : 3 lát
Các vị sắc kỹ, uống nóng

        Ngoại cảm
       
        Cảm hàn quyết lănh tay chân
Nhức đầu sốt rét đau dần tứ chi
        Sinh liền "Ngũ tích" (27) khung quy
Bội gia Khương phụ uống th́ thần thông
        Trúng thử phiền táo đầu đông
Hăn khát mạch hồng "Hương nhự Ngũ linh" (28)
        "Bạch hổ" (29), "Ích nguyên" (30) hồi sinh
Tán ḥa điều phục lại lành như xưa
        Trúng thấp cảm nắng cùng mưa
Nhức đầu sốt rét khí như nặng nề
        Xương đau khắp hết bốn bề
Hợp bài "B́nh vị" (31) thang tùy Sinh khương
        Thẩm thấp "Tang kư sinh thang" (32)
Biện cho phải chứng rơ ràng liệu gia

 

 

 


--- Y học giai thoại ---

Trà trong "tam sinh thang"

 Trong cuộc sống hàng ngày, trà là một thức uống không thể thiếu. Và dân mọi nơi c̣n căn cứ theo thói quen của ḿnh mà thêm các vật liệu khác để pha chế ra những món trà mang khẩu vị đặc biệt
Như vùng Đào Hoa Nguyên tỉnh Hồ Nam, bên xứ Tàu có phong tục uống "Trà lơi". Mỗi lần có khách, chủ nhà đều mời khách tách "Trà lơi"
Truyền thuyết kể rằng, vào thời Đông Hán, Mă tướng quân một lần dẫn quân đi qua ḥn Ô Đầu, túc Đào Hoa Nguyên, bỗng nhiên binh sĩ nhiễm bệnh ôn dịch. Chỉ trong 1 đêm mà nhiều binh sĩ ngă bệnh, cả Mă tướng quân cũng vậy. Các y sư trong quân đều bó tay.
Sau đó, 1 bà lăo ở cách đó không xa t́m đến và nói rằng có thể chữa được ôn dịch, yêu cầu Mă tướng quân cho binh sĩ theo bà đi hái và chế thuốc. Hết cách, Mă tướng quân liền thuận theo.
Lăo bà dẫn 60 binh sĩ đi hái trà, đào lấy củ gừng và xay gạo, nấu nước rồi dùng 30 cái cối đá cho trà, gừng tươi và gạo vào giă thành dạng hồ, chế nước sôi vào, phát cho mỗi binh sĩ 1 chén to để uống. Không bao lâu, ôn dịch đă được chế ngự. Đó là trà lơi, c̣n có tên gọi khác là Tam sinh thang
Trà có tác dụng thanh tâm thần, mát can, trừ phiền khát, có thể hóa đờm tiêu thực, lợi tiểu

- - - - - - o0o - - - - - -

Rau như ư

Giá đậu c̣n được gọi là rau như ư, ở nhiều nơi bên Tàu người ta ăn rau như ư vào mồng một Tết để mong được vạn sự như ư trong năm mới
Truyền thuyết kể rằng, lúc vua Càn Long triều Măn Thanh du Giang Nam thăm hỏi dân t́nh, một hôm đi tới vùng ngoại thành vắng vẻ, bụng đói cồn cào, t́m không ra một quán ăn. Đang lo lắng, vua bỗng thấy gần đó có luồng khói bếp bay lên, liền lần đến. Vào nhà, vua gặp một nông phụ đang thổi cơm, bèn nói rơ nguyên do
Nông phụ tuy hiếu khách, nhưng nhà nghèo chẳng có món ǵ ngon, chỉ có đĩa giá trên bàn liền đem mời khách. Càn Long ăn món rau phần trên đầu vàng vàng, thân ngà ngà có h́nh dáng rất lạ, cảm thấy ngon miệng, bèn hỏi nông phụ kia đó là rau ǵ. Nông phụ không biết Càn Long là thiên tử, mới nói đùa đó là rau như ư, v́ h́nh dáng giống ngọc như ư.
Sau đó, khi hồi kinh, Càn Long có bữa rất muốn ăn lại món rau như ư, hạ lệnh cho ngụ trù làm, nhưng khổ nỗi không ai biết rau như ư là rau ǵ, v́ bọn họ chưa hề nghe và thấy rau như ư bao giờ. Vua phái người đi Giang Nam hỏi thăm th́ mới hay đó chính là giá đậu. Và từ đó truyền thuyết rau như ư lan truyền khắp kinh đô
Giá đậu không những là món ăn ngon mà c̣n là vị thuốc có công năng thanh giải biểu tà, thấp nhiệt, có thể chữa trị chứng thấp ôn lúc ban đầu, thấp nhiệt không tiêu, tức ngực, thủy thũng, tiểu không thông

- - - - - - o0o - - - - - -

Nguyên nhân Toàn phúc hoa đổi thành Nhuận bút hoa

Toàn phúc hoa c̣n gọi là Kim tiền hoa, Nhuận bút hoa, có tác dụng ấm phổi, tiêu đờm, hạ khí, nhuyễn kiên (1), hành thủy, chủ trị các chứng trong bụng có đờm tích, hông sườn đầy tức, ho hen, đờm dính đặc, dưới tâm đầy tức, bụng trướng, thủy thũng
Theo ghi chép trong "Hoa Sử", một hôm có người tên Trịnh Vinh một ḿnh đi du ngoạn, bỗng thấy Kim tiền hoa vàng rực sáng chói, bèn nổi hứng lấy Kim tiền hoa làm đề tài cho bài thơ. Trịnh Vinh chưa viết xong bài thơ th́ đă đi vào cơi mộng. Trong giấc mơ, Trịnh Vinh thấy một cô gái rất thon thả, dung nhan kiều diễm vừa ném cho ông rất nhiều Kim tiền (đồng vàng) vừa cười mà rằng :
- Nhuận bút cho chàng đây
Trịnh Vinh thức tỉnh, liền t́m trong ḿnh những đồng tiền vàng mà cô gái kia ném cho, nhưng không thấy ǵ, chỉ có Kim tiền hoa rơi khắp người ông. Do đó, ông dùng Kim tiền hoa làm tựa, lập tức viết ngay một bài thơ, trong đó đă gọi Kim tiền hoa là Nhuận bút hoa, từ đấy thành danh
 
# nhuyễn kiên : mềm chất rắn

- - - - - - o0o - - - - - -

Địa cốt b́ và niềm vui của Từ Hy Thái Hậu

Truyện kể rằng, có bữa Từ Hy Thái Hậu bỗng cảm thấy tức ngực và mờ mắt. Ngự y lập tức được triệu đến để lo chữa trị nhưng bệnh t́nh không hề thuyên giảm
Đang lúc các ngự y hết sức lo lắng th́ một vị tướng quân họ Tiền tới gặp và kể cho nghe một trường hợp chữa lành chứng bệnh tương tự. Theo Tiền tướng quân, chính mẹ ông ta đă từng bị tức ngực, mờ mắt giống như Từ Hy Thái Hậu. Sau một thời gian chữa trị không hiệu quả, may gặp một vị lương y đưa cho một thứ rễ cây, dặn cách thức bóc rửa rồi sắc lấy nước uống. Kết quả bệnh đă được chữa lành mau chóng
Các ngự y cả mừng, vội tiến cử Tiền tướng quân với Từ Hy Thái Hậu
Ngay lập tức, Từ Hy Thái Hậu lệnh cho Tiền tướng quân phải tức tốc về quê t́m gặp vị lương y nọ để lấy thuốc đó mang về
Tiền tướng quân lên đường ngay và không mấy ngày sau đă trở lại kinh đô với một bao lớn vỏ rễ cây. Đích thân Tiền tướng quân vào Thái Y Viện đứng trông nom việc sắc thuốc đưa vào trong cung. Chỉ vài ngày sau, mắt của Thái Hậu sáng rơ dần, đồng thời tinh thần sảng khoái hơn, chứng tức ngực hầu như không c̣n nữa. Thái Hậu bèn triệu Tiền tướng quân hỏi thứ rễ cây mà ông đem về sắc thuốc là rễ cây ǵ
Tiền tướng quân suy nghĩ một hồi, rồi tâu :
- Đó là Địa cốt b́
Cái tên Địa cốt b́ chỉ là tên do Tiền tướng quân bất ngờ nghĩ ra. Bởi lẽ cái thứ rễ cây được dùng làm thuốc chính là rễ cây Câu kỷ. Trong lúc nghe Thái Hậu hỏi về tên rễ cây, Tiền tướng quân bỗng sực nghĩ ra rằng tiếng "Câu" trong Hán ngữ đồng âm với tiếng "Cẩu" là chó nên tránh không dám nhắc đến trước mặt Thái Hậu. V́ vậy ông nghĩ ra cái tên khác vừa lạ vừa có vẻ cát tường. Từ Hy Thái Hậu vừa nghe thấy cái tên Địa cốt b́ th́ tỏ vẻ vui mừng, khen :
- Tốt ! Tốt lắm !
Đoạn nói tiếp :
- Ta đă dùng vỏ rễ Địa cốt b́ th́ có thể thọ ngang với trời đất rồi
Từ đó, vỏ rễ Câu kỷ có thêm cái tên mới là Địa cốt b́

- - - - - - o0o - - - - - -

Sự tích cây quất Huỳnh Nham

Trong Đông y, cây quất có rất nhiều công dụng. Trái quất thường được dùng để khai vị, lư khí, chỉ khát (1), nhuận phế, táo thấp, hóa đờm. Lá quất được dùng để sơ can hành khí, hóa đờm tiêu sưng. Vỏ quất được dùng để lư khí điều trung, táo thấp hóa đờm. Hạt quất được dùng để chữa các chứng sán khí.
Tương truyền, cây quất khởi sự xuất hiện ở vùng Huỳnh Nham thuộc tỉnh Triết Giang với một lai lịch khá ly kỳ.
Thuở ấy, trên Thúy B́nh Sơn ở phía Bắc Huỳnh Nham có một con công vàng, c̣n ở dưới chân núi có một tiều phu sinh sống. Người tiều phu này tuy nghèo khổ nhưng rất giàu ḷng nhân hậu.
Một hôm, không rơ v́ lư do ǵ, con công vàng bị thương rơi từ đỉnh núi lăn xuống. May mắn là đúng lúc đó người tiều phu vừa đi tới. Ông liền mang con công về nhà chăm sóc cho lành vết thương. Sau khi con công khỏe hẳn, tiều phu có ư định giữ nó lại làm bạn. Nhưng ông lại thấy nó nh́n ông với cặp mắt ướt đẫm. Đoán được là nó buồn v́ cảnh giam hăm, tiều phu động ḷng trắc ẩn bèn thả công về với núi rừng.
Con công cảm động v́ ḷng nhân hậu của tiều phu nên ngay sau đó đă bay trở lại, ngậm theo một hạt giống vàng. Tiều phu được công trao cho hạt giống, liền đem trồng sau nhà. Không bao lâu, hạt giống nảy mầm rồi nhanh chóng vươn lên thành một cây sum xuê lá và nở hoa kết trái. Do ḷng nhân hậu không muốn tận hưởng một ḿnh, tiều phu hái những trái lạ nọ đem tặng cho những người già yếu bệnh tật trong vùng. Lạ thay, sau khi ăn xong, những người này đều cảm thấy tinh thần sảng khoái, và nhiều chứng bệnh lâu ngày dần dần tự nhiên tiêu tán. Thế là người ta đem hạt của loại cây ấy gieo trồng, đặt tên là cây quất. Kể từ đó, cây quất tiếp tục phát triển măi, lan khắp vùng và trở thành một trong những dược vị phổ dụng. Riêng những cây quất tại Huỳnh Nham cho tới nay được đặc biệt coi trọng và c̣n được tặng cho biệt danh "thiên hạ kỳ vật"
 
# Chỉ : ngừng, chỉ thống : ngừng đau, chỉ khát : ngừng khát

- - - - - - o0o - - - - - -

Tại sao long nhăn c̣n gọi là Quế viên

Tương truyền, vào một thuở xa xưa lắm, tại vịnh Hưng Hóa huyện Bồ Điền tỉnh Phúc Kiến có một con Nghiệt long. Hàng năm vào mùa đông con Nghiệt long phải về chầu trời một lần. Khi đó, do việc con Nghiệt long cất ḿnh lên khỏi mặt biển để lao vào không trung, yêu phong và sóng dữ nổi dậy đồng thời làm mực nước trong vịnh Hưng Hóa dâng cao biến thành ngập lụt khắp vùng.
Trong một lần ngập lục, cha mẹ của cậu bé Quế Viên đă bị nước cuốn trôi ra biển cả cùng với nhiều nạn nhân khác. Cậu bé Quế Viên may mắn thoát chết v́ lúc đó đang ở cách vịnh Hưng Hóa rất xa, tại nhà người cậu. Được tin cha mẹ chết trôi trong băo lụt, cậu bé nghiến răng thề sẽ giết cho bằng được con Nghiệt long để trả thù.
Quế Viên được người cậu giữ lại giúp việc chăn trâu đốn củi. Những lúc rảnh rỗi, cậu bé theo một vị vơ sư gần đấy luyện vơ.
Thấm thoát chín năm trôi qua. Quế Viên không c̣n là một đứa trẻ nữa mà đă trở thành một chàng trai cao lớn. Đặt biệt sau chín năm chuyên cần rèn luyện vơ công, Quế Viên có một thân h́nh cứng chắc như gang thép. Ngoài ra, Quế Viên c̣n đạt được một kỹ thuật chiến đấu rất kỳ ảo và hữu hiệu. Lúc này hầu như không người nào đủ sức đương đầu với Quế Viên. Do đó, Quế Viên tin là đă tới lúc chàng có thể trở về trả th́ cho cha mẹ cùng toàn thể những nạn nhân đă bị con Nghiệt long giết hại trong vùng vịnh Hưng Hóa.
Quế Viên về tới nơi đúng vào lúc con Nghiệt long đang khởi sự dâng cao mực nước để chuẩn bị tạo sóng gió giúp nó bay lên. Nắm chắc bảo kiếm, Quế Viên tung ḿnh vào giữa phong ba để chém Nghiệt long. Cuộc chiến diễn ra vô cùng ác liệt. Nghiệt long hết sức hung hăn nhưng cuối cùng vẫn đành chịu khuất phục. Quế Viên hạ được Nghiệt long rồi tiếp tục moi lấy cặp mắt của nó định đem về quê hương tế cha mẹ và các nạn nhân đă từng bị nó sát hại.
Nhưng tin Quế Viên hạ được Nghiệt long được loan truyền, khi chàng mới về tới giữa đường th́ gặp Huyện quan chặn lại. Vừa  thấy Quế Viên, Huyện quan đă ra lệnh :
- Long nhăn là kỳ vật trên đời, không thể giữ trong tay những kẻ tầm thường. Ngươi phải lập tức đưa nộp cho quan phủ.
Huyện quan vừa nói dứt th́ đám công sai đă ào tới bao quanh Quế Viên, quyết giật lấy cặp mắt rồng. Trong lúc bất ngờ, Quế Viên bị giật mất một con. Chàng vội vă bỏ con mắt rồng c̣n lại vào miệng, chuẩn bị tả xung hữu đột giữa đám quan binh. Nhưng con mắt rồng vừa trôi qua cuống họng chàng th́ sấm chớp nổi lên đùng đùng và Quế Viên hóa thành một con Kim long tung ḿnh quẫy lộn. Huyện quan được thủ hạ trao cho mắt rồng vừa giật được, thấy cảnh tượng đó th́ kinh hoàng đánh rớt xuống đất. Ngay lập tức, con mắt này biến thành một cây cao lớn.
Mùa hè năm sau, cây này kết trái và được đặt tên là Quế viên, hay Long nhăn.

- - - - - - o0o - - - - - -

Oai vơ bất khuất của hoa mẫu đơn

Một trong những loài hoa có tác dụng thanh nhiệt, lương huyết, ḥa huyết là hoa Mẫu đơn. Nhưng Mẫu đơn không chỉ được biết đến nhờ dược tính đặc biệt mà c̣n nhờ những giai thoại được lưu truyền khắp nơi.
Truyền thuyết kể rằng, vào thuở Vơ Tắc Thiên xưng đế có một lần bà muốn du ngoạn vườn thượng uyển vào mùa đông. Đó là lúc mà các loài hoa c̣n đang đợi gió xuân để đua nở. Vơ Tắc Thiên đă xuống chiếu cho các loài hoa trong vườn thượng uyển như sau :
                    "Ngày mai thăm thượng uyển
                    Hỏa tốc báo tin xuân
                    Hoa ắt nở ngay đêm
                    Không chờ gió sớm thổi."
Hôm sau, Vơ Tắc Thiên tới nơi, quả nhiên trăm hoa trong vườn thượng uyển đều bừng nở, đua nhau khoe màu tươi sắc thắm. Nhưng khi Vơ Tắc Thiên tới trước khóm Mẫu đơn th́ thấy khóm hoa vẫn im ĺm không một bông nào hé nở. Vơ Tắc Thiên nổi giận cho là Mẫu đơn dám cưỡng lại lệnh của ḿnh nên truyền ném hết loài Mẫu đơn ra khỏi Lạc Dương. Nhưng từ đó, hoa Mẫu đơn lại nổi tiếng khắp nơi v́ tinh thần bất khuất trước uy quyền, đặc biệt là loài Mẫu đơn có gốc từ Lạc Dương.
Sau này cũng có một giai thoại về oai vơ bất khuất của hoa Mẫu đơn. Theo truyền kể th́ vào cuối đời Nguyên, tại vùng Hải Lăng có một nhân vật tên là Biện Nguyên Hanh. Nguyên Hanh là một văn sĩ và có một thời là cận thần của Ngô vương Trương Sĩ Thành. Sau khi Ngô vương bị Chu Nguyên Chương đánh bại, Chu Nguyên Chương v́ tiếc tài của Biện Nguyên Hanh nên kêu gọi ông theo hàng. Mặc dù Chu Nguyên Chương hết sức thành thật, Biện Nguyên Hanh vẫn từ chối. Cuối cùng, Chu Nguyên Chương đă truyền lệnh đưa Biện Nguyên Hanh đi đày tại Liêu Dương. Trước khi ra đi, Biện Nguyên Hanh tỏ ra vô cùng quyến luyến những khóm hoa Mẫu đơn trong vườn. Ông tới giă từ từng khóm hoa, nước mắt đầm đ́a, dặn lại :
- Hăy đợi ngày ta trở về Nam mới nở hoa nhé.
Không ngờ, từ đó những khóm hoa Mẫu đơn kia tuyệt nhiên không nở hoa.
Mười năm sau mới được ân xá, ông vừa trở về đến ngôi vườn cũ th́ tất cả các khóm hoa Mẫu đơn đều đua nở. Nhân đó ông khởi thi hứng viết mấy vần thơ ca ngợi ư chí của hoa :
                "Mẫu đơn từng do tay ta trồng
                Mười năm gió xuân hoa không nở
                Bao nhiêu loài hoa đă rụng hết
                Chỉ duy một loài đợi chủ về."

- - - - - - o0o - - - - - -

Nước cốt mía và Y Sư Hạ Vân Dĩnh

Dưới triều Càn Long nhà Thanh, tại huyện Lâm Hải, Triết Giang có một người họ Chu từ lâu bị khan tiếng rồi tắc tiếng. Lúc bấy giờ, tại Tô Châu có một danh y là Diệp Thiên Sĩ. Bệnh nhân bèn t́m đến Tô Châu, ra mắt vị danh y xin được cứu giúp. Diệp đại phu tiến hành chẩn mạch qua đủ tứ vọng (1), rồi cho biết :
- Không dám giấu ngài. Bệnh của ngài đă bước tới nhiệt tà công tâm, khó ḷng trị nổi. Lúc này, lăo phu chỉ khuyên ngài hay nhanh chóng trở về nhà.
Nghe nói vậy, bệnh nhân không c̣n hy vọng ǵ nữa nên lật đật hồi gia để tránh cảnh không may phải nhận một cái chết nơi đất lạ quê người.
Nhưng mới về được nửa đường, bệnh nhân lại nghe nhắc ở vùng Huỳnh Nham có một vị lương y là Hạ Vân Dĩnh rất giỏi trong việc điều trị các nghi nan tạp chứng. Nhiều người khuyên họ Chu nhân tiện trên đường về thử ghé qua Huỳnh Nham coi sự thể thế nào. Tuy không mấy hy vọng, nhưng họ Chu vẫn theo lời khuyên ghé qua Huỳnh Nham, t́m tới Hạ đại phu. Sau khi chẩn đoán, Hạ đại phu nói :
- Bệnh ngài nguy nặng lắm rồi. Nhưng khi trở về nhà ngài cứ lấy nước cốt Cam giá (1) uống tùy lượng nhiều lần coi có cơ may nào không.
Lúc đó là đang giữa mùa mía nên người họ Chu liền mua thử ít bó mang về ép lấy nước cốt uống thử. Sau ít ngày, bệnh t́nh quả có dấu hiệu thay đổi. Người họ Chu mừng rỡ mua thêm về uống tiếp đồng thời dùng thêm các thuốc bồi bổ khác. Một thời gian sau, bệnh lành hẳn.
Danh y Diệp Thiên Sĩ nghe tin lạ này, vội bỏ Tô Châu t́m tới Huỳnh Nham ra mắt Hạ Vân Dĩnh xin được làm lễ bái sư.
 
#  (1) tứ chẩn : vọng, văn, vấn, thiết
    (2) Cam giá : mía

- - - - - - o0o - - - - - -

Khoản Đông Hoa

Trương Tịch tự Văn Xương, người Ô Giang, An Huy, sống vào cuối thế kỷ thứ VIII đầu thế kỷ thứ IX, đời Đường. Tiên sinh là một nhà thơ nổi tiếng của Trung Hoa, lưu lại nhiều kiệt tác, trong đó có bài "Tiết phụ ngâm" được xem là đỉnh cao nghệ thuật trong kho báu thơ Đường.
Tiên sinh đỗ tiến sĩ vào thời Trinh Nguyên, từng đảm nhận các chức vụ cao như Quốc Tử Tư Nghiệp. Tuy vậy, gia cảnh tiên sinh rất bần hàn và bản thân tiên sinh lại thường đau ốm luôn. Tiên sinh bị nhiều thứ bệnh, hết đau mắt lại tới phế khí hư thở gấp, ho liên tục không ngừng. Cũng bởi gia cảnh bần hàn nên không một chứng bệnh nào được chữa khỏi v́ thiếu tiền lo thang thuốc. Vào những dịp trời trở lạnh, tiên sinh lại càng thêm khốn khổ v́ bệnh. Nhưng tiên sinh không có tiền chạy chữa, đành t́m quên bằng cách cố gắng ngoạn cảnh, ngắm hoa.
Một bữa, nhân lúc tuyết xuân mới tan, tiên sinh đi dạo quanh vùng, ghé vào một ngôi chùa t́m gặp một vị ḥa thượng vốn là chỗ thâm giao.
Khi tiên sinh đến th́ ḥa thượng đang chăm chút mấy khóm Khoản đông hoa. Ḥa thượng cho tiên sinh biết Khoản đông hoa không chỉ là một loài hoa b́nh thường mà c̣n có công hiệu rất tốt trong việc chữa các chứng ho. Theo lời ḥa thượng, nhờ có những khóm Khoản đông hoa quanh tăng pḥng mà ḥa thượng đă giúp nhiều người bệnh trong vùng khỏe mạnh trở lại. Tiên sinh vốn thờ ơ nên cũng chẳng lưu tâm đến câu chuyện ấy.
Vào lúc bị chứng bệnh ho hành hạ, tiên sinh cũng không nhớ ra cho đến một hôm vô t́nh tiên sinh nh́n thấy khóm Khoản đông hoa trước hàng hiên nở rộ hoa vàng. Tiên sinh chạnh nhớ đến vị ḥa thượng, bèn cầm bút viết mấy câu thơ :
"Tăng pḥng buổi gặp Khoản đông hoa
Thi hứng dời chân, bóng ác tà
Khắp nẻo phố phường xuân rơi tuyết
Người xưa nay đă vắng đâu xa ?"
Viết dứt bài thơ, tiên sinh sực nhớ đến câu chuyện của vị ḥa thượng thuở nào về công hiệu chữa bệnh ho của Khoản đông hoa. Tiên sinh liền hái, sắc thành nước uống thử. Chuyện tiếp theo quả đúng như lời vị ḥa thượng đă nói. Bệnh ho của tiên sinh thuyên giảm dần rồi dứt hẳn

- - - - - - o0o - - - - - -

Bách Hợp Hoa

Ngoài dược tính, hoa bách hợp c̣n là một loài hoa đẹp, hương thơm và vẫn được xem là một loài hoa quư.
Truyền thuyết kể rằng, thuở ấy, tại vùng Tức Phong, Quư Châu, Trung Hoa có một khu hồ rất đẹp gọi là Lam Hồ. Tại đấy có một chàng trai tuấn tú tục gọi Lam Hồ Vương. Dân chúng quanh vùng Lam Hồ được Lam Hồ Vương giúp đỡ nên hầu như năm nào cũng được mùa và thu hoạch rất khả quan.
Trong cuộc sống êm ả thanh b́nh, chàng trai rất nhàn hạ nên thường tấu nhạc vui chơi. Chàng vốn có biệt tài thổi tiêu và vào một đêm trăng thanh gió mát, tiếng tiêu của chàng đă kinh động đến thiên cung, khiến nàng Bách Hợp Tiên mê mẫn. Nàng vén mây nh́n xuống trần gian và thấy người đang thổi tiêu là một chàng trai vô cùng tuấn tú. Lập tức nàng cảm thấy yêu người ấy, và nhân lúc cha nàng là Hỏa Thần đang say rượu, liền bay xuống bên cạnh chàng. Hai người quấn quưt bên nhau không rời ...
Lúc xuống trần, nàng tiên Bách Hợp c̣n mang theo một loài hoa và họ trồng ngay tại chỗ ở của ḿnh. Không bao lâu, toàn vùng Lam Hồ bừng lên cả một rừng hoa, được gọi là hoa Bách Hợp.
Cuộc t́nh kỳ ảo của Lam Hồ Vương và nàng tiên Bách Hợp được hết thảy dân chúng trong vùng ngưỡng mộ, xem như một chuyện t́nh đẹp nhất trên đời. Nhưng ...
Cuộc t́nh đẹp ấy đă kết thúc đầy bi thảm.
Khi tỉnh rượu, Hỏa Thần phát hiện việc con gái trốn xuống khu Lam Hồ nên đùng đùng nổi giận, quyết gieo rắc tai họa cho cả vùng này. Ông nhờ Ôn Thần cho cổ độc quấy nhiễu bách tính tạo ra nhiều loại bệnh hiểm nghèo. Nhưng nhờ có hoa Bách Hợp, nàng tiên đă chữa lành cho hết thảy mọi người. Hỏa Thần thấy vậy càng giận hơn, mở miệng phun thẳng vào con gái. Nàng đau đớn hô gọi Lam Hồ Vương mau dâng nước hồ lên để chống lửa, có ngờ đâu Lam Hồ Vương đă bị Hỏa Thần thiêu chết tự lâu rồi. Cả hai người biến thành hai tảng đá lớn đứng sát cạnh nhau ngay bên bờ hồ. Cặp đá này mang dáng h́nh một đôi nam nữ và được gọi là Tiên thạch.
Nàng Bách Hợp Tiên và chàng trai tuấn tú Lam Hồ Vương không c̣n nữa, nhưng Tiên thạch và những đóa Bách Hợp Hoa vẫn c̣n măi với thời gian.

- - - - - - o0o - - - - - -

Kim Ngân Hoa

Kim ngân hoa không chỉ là hoa kiểng để thưởng ngoạn mà c̣n là một dược vị tốt để thanh nhiệt giải độc.
Truyền thuyết kể rằng, ngày xưa, có một làng nọ đang bị ôn dịch, người mắc bệnh trên mửa dưới tiêu, chẳng mấy ngày là chết. Trong làng có một cô gái xinh đẹp, dân làng gọi cô là Kim Ngân Hoa. Cô không chỉ giỏi việc khâu vá kim chỉ mà c̣n có thể chữa bệnh cho thuốc. Cô thấy dân làng bị ôn dịch đày đọa, bèn đem một bí phương gia truyền ra để cho thuốc chữa bệnh cho người nghèo khó. Không lâu sau, ôn dịch bị khống chế, và danh Kim Ngân Hoa nổi tiếng khắp xa gần.
Có một tên phú hào biết được chuyện ấy, bèn cậy thế ép duyên cô. Kim Ngân Hoa không thuận, đập đầu vào cột đá tự vẫn. Dân làng nhớ ơn, đă chôn cất cô ở một nơi phong cảnh hữu t́nh. Sau này ở mộ cô mọc ra rất nhiều hoa vàng và trắng bạc, hoa rất tú lệ, thơm to. Người ta đồn rằng đấy là hóa thân của Kim Ngân Hoa. Dân làng bèn làm cỏ, chăm tưới và gọi là Kim Ngân Hoa.
Năm sau, dân làng lại bị dịch đau mắt. Có người mơ thấy Kim Ngân Hoa lấy "Kim Ngân Hoa" sắc nước xông rửa, chữa lành bệnh đau mắt của dân. Dân làng làm theo giấc mơ ấy, quả nhiên đạt hiệu quả linh nghiệm.
Lại theo ghi nhận của Trương Ban Cơ trong "Mực trang mạn lục" đời Tống, vào năm Sùng Ninh. Bạch Vân Tự ở Thiên B́nh Sơn, B́nh Giang phủ có mấy vị ḥa thượng ở núi hái về một giỏ nấm, nấu ăn no một buổi. Nào ngờ nấm có độc, các ḥa thượng trên mửa dưới tiêu không cầm. Khi ấy có ba vị ḥa thượng đă vội hái Kim Ngân Hoa nhai nuốt, kết quả b́nh yên vô sự, trong khi đó những ḥa thượng khác đă chết. Nhờ vậy người ta biết thêm về tác dụng giải độc của Kim Ngân Hoa.
 

- - - - - - o0o - - - - - -

Bát Tiên Hoa

Truyện kể rằng, xưa kia Bát Tiên hay cưỡi mây đạp gió đến trần gian để cứu giúp dân lành gặp khổ nạn.
Một hôm, đang đi trên mây gió, Tào Quốc Cửu vén mây nh́n xuống trần gian, phát hiện bên khe núi Đông Sơn có một luồng khí bất tường bốc lên, liền bay đến t́m hiểu. Vốn ở nơi đó có hai mẹ con sống trong khe núi, mỗi ngày người con vào rừng đốn củi ra thị trấn đổi lấy cái ăn cái mặc, người mẹ ở nhà chăm nom nhà cửa. Cuộc sống của họ tuy đạm bạc nghèo khổ nhưng ấm cúng hạnh phúc v́ đứa con hiếu thảo cần mẫn, người mẹ hiền rất thương con và cần kiệm.
Nhưng chẳng may người con đột ngột nhiễm bệnh nặng, khi phát sốt cao, khi lại phát lạnh, người mẹ ngày càng gầy yếu mà gia cảnh lại bần hàn nên không có tiền chạy chữa. Trước t́nh cảnh ấy, người mẹ lo âu quá độ, mấy hôm sau cũng bị bệnh, cảm thấy trong ḷng nóng nảy, luôn hồi hộp lo sợ bất an, rồi sau đó cũng phát nóng lạnh như người con. Bệnh tật đă dày ṿ hai mẹ con đến sức cùng lực kiệt, chỉ c̣n chờ chết.
Tào Quốc Cửu biết được sự t́nh, thương t́nh cảnh hai mẹ con hiền lành, liền mời các vị tiên đến giúp đỡ hai mẹ con qua cơn bệnh hoạn và cảnh nghèo khó. Bát Tiên phân công nhau :
- Lữ Đồng Tân và Hà Tiên Cô lo lương thực.
- Hàn Tương Tử và Trương Quả Lăo trông coi vườn tược.
- Hán Chung Ly với Lam Thái Ḥa giữ việc bếp núc
- Lư Thiết Quải và Tào Quốc Cửu lo hái thuốc chữa bệnh
Sau khi khỏi bệnh và được sự giúp đỡ của Bát Tiên, cuộc sống của hai mẹ con dần khá lên. Để kỷ niệm ân cứu mạng của Bát Tiên, hai mẹ con đem những cây thuốc mà Bát Tiên dùng chữa bệnh cho họ trồng trước nhà. Không bao lâu sau, cây có nụ và trổ hoa. Hoa thành chùm dạng cầu, một cuống có tám nhụy, tựa như sự đoàn tụ của Bát Tiên, hoa từ màu trắng dần chuyển thành màu hồng hoặc xanh lam rất đẹp. Hai mẹ con đặt tên hoa này là Bát Tiên Hoa, sau c̣n gọi là Tú Cầu Bát Tiên Hoa hay Tụ Bát Tiên Hoa.
Bát Tiên Hoa dùng trong trị liệu, có vị đắng hơi cay, tính hàn. Có tác dụng triệt ngược, trừ phiền nhiệt, chủ trị các chứng tức ngực, đau họng và cao huyết áp.
 
#  (1) triệt ngược : sốt rét
    (2) phiền nhiệt : vật vă

- - - - - - o0o - - - - - -

Mộc Miên nở hoa ca ngợi anh hùng

Mộc Miên là loại cây cao to, rễ và vỏ của cây đều có thể làm thuốc được, có công năng thanh nhiệt, lợi thấp, giải độc, cầm máu. Cây Mộc Miên c̣n tượng trưng cho khí khái anh hùng và tính cách kiên cường. Dân tộc Lê ở phía nam Trung Hoa đến nay vẫn c̣n lưu truyền một truyền thuyết rất cảm động.
Thuở xưa, ở vùng Ngũ Chỉ Sơn có một thanh niên tuấn tú người dân tộc Lê tên là Khiết Bội. Chàng đă nhiều lần thống lĩnh dân tộc Lê chống ngoại xâm. Trong một trận đem quân chống địch, bị phản bội, cả đội quân bị vây ở một ngọn núi cao. Khiết Bội rất b́nh tĩnh và dũng mănh dẫn quân quyết đấu với địch, nhưng cuối cùng cả đội quân đều hy sinh, chỉ c̣n lại một ḿnh Khiết Bội. Lúc ấy chàng bị địch bao vây tứ phía, toàn thân chi chít những mũi tên. Địch định bắt sống chàng nên từ từ siết chặt ṿng vây lại. Nhưng khi địch đến gần mới phát hiện ra chàng đă chết. Khiết Bội tuy chết rồi mà vẫn đứng hiên ngang, sừng sững ra đó làm binh lính địch kính phục, quỳ lạy. Lúc bấy giờ, Khiết Bội từ từ hóa thành một cây to thẳng, thân cây cao vút, các mũi tên cắm trên thân chàng biến thành cành cây. Máu chàng trở thành những đóa hoa đỏ tươi. Để kỷ niệm vị anh hùng này, người dân tộc Lê gọi cây Mộc Miên là cây Anh hùng, cây Khiết Bội, và hoa Mộc Miên là Anh Hùng Hoa. Từ đó, mỗi khi có đám cưới, người dân tộc Lê đều phải trồng một cây Mộc Miên để kỷ niệm vị anh hùng của dân tộc.

- - - - - - o0o - - - - - -

 


For More Information Contact:

Van Duc Cung
Giang_Hoai_Ngoc@yahoo.com
Tel: 095 898 1756
FAX:
Internet: Giang_Hoai_Ngoc@yahoo.com

 

Home ] Up ]

Send mail to Giang_Hoai_Ngoc@yahoo.com with questions or comments about this web site.
Copyright © 2006 Van Duc Cung
Last modified: December 24, 2007