This site hosted by Free.ProHosting.com
Google

Chào mừng bạn đă đến với chúng tôi

Chúc bạn một ngày an lành


Giang Hoài Ngọc

----------------

Vọng cổ

Index

----------------

Trúc Lâm Cổ Tự

----------------

Tân Tây Vơ Quán

----------------

Bốc Tử Quán

----------------

Đạo Gia Khí Công

----------------

Thiếu Lâm Tự

----------------

Thi Quán

----------------

Y Quán

----------------

Việt Nam Thân Yêu

---------------

Thư Quán :

Truyện kiếm hiệp

Truyện trinh thám

Bách gia tính

---------------

Nhạc Quán :

------------------

.  ©  .

(phản hồi)

Văn Đức Cung


--- Các dạng đặc biệt của thơ Đường ---

 
Trong thơ Đường, ngoài những luật lệ chính quy ra ta c̣n sáng tạo ra nhiều thể loại đặc biệt rất sinh động làm phong phú thêm cho thơ ca Việt Nam

1. Thủ nhất thanh (nhất đồng) : từ đứng đầu của tất cả các câu đều giống nhau

Tám mừng

Mừng đón xuân về muôn sắc hoa
Mừng xuân, xuân mới, mới thêm ra
Mừng nghe nhựa sống như c̣n trẻ
Mừng thấy đời tươi chửa muốn già
Mừng khỏe đôi chân, đi đứng vững
Mừng tinh cặp mắt, ngắm nh́n xa
Mừng nhau tuổi thọ tăng tăng măi
Mừng được trường xuân hưởng thái ḥa

2. Song điệp : mỗi câu đều có 2 điệp từ

Vô đề

Vất vất vơ vơ cũng nực cười
Căm căm cúi cúi có hơn ai
Nay c̣n chị chị anh anh đó
Mai đă ông ông mụ mụ rồi
Có có không không lo hết kiếp
Khôn khôn dại dại chết xong đời
Chi bằng láo láo lơ lơ vậy
Ngủ ngủ ăn ăn nói chuyện chơi

3. Song điệp độc vận : mỗi câu đều có 2 từ giống nhau

Xuân và Thơ

Xuân tự ngàn xưa bạn với thơ
T́nh Xuân là cả vạn lời thơ
Đẹp duyên thơ bút, Xuân ngời sắc
Rộn khúc xuân thiều, nhạc ánh thơ
Xuân vắng, oanh hờn, thơ dáng liễu
Xuân về hương tỏa ngát trời thơ
Xuân nương, thi sĩ đôi người ngọc
Dệt mộng ngày Xuân lộng ư thơ
 

Nghĩa t́nh

Chữ nghĩa đi đôi với chữ t́nh
Nếu coi thường nghĩa sẽ lơi t́nh
Trọng thầy quư bạn yêu t́nh nghĩa
Trục lợi tham danh, ghét nghĩa t́nh
Mấy kẻ bạc t́nh thường phụ nghĩa
Những ai nặng nghĩa ắt chung t́nh
Dứt đường t́nh nghĩa là vô đạo
Nghĩa nhắc ta luôn sống chí t́nh

4. Dĩ đề vi thủ : lấy những từ đầu đề để mở đầu câu thơ

Chân thành cảm tạ Hàn Giang thi hữu

Chân trời ai khéo ghép ḍng thơ
Thành những vần hoa lộng ánh mơ
Cảm nghĩa giao du duyên hàn mặc
Tạ t́nh tri ngộ khách giang hồ
Hàn lâm văn mạch say hồn mộng
Giang khẩu ba đào lộng tiếng tơ
Thi tứ cao sâu hàng ngọc chuốt
Hữu bằng xướng họa thỏa mong chờ
 

5. Dĩ đề vi vận : lấy đầu đề làm vần

Không chồng trông bông lông

Bực ǵ bằng gái chực pḥng không
Tơ tưởng v́ chưng một tấm chồng
Trên gác rồng mây ngao ngán nhẽ
Bên trời cá nước ngẩn ngơ trông
Mua vui lắm lúc cười cười gượng
Giả dại nhiều khi nói nói bông
Mới biết có chồng như có cánh
Giang san gánh vác nhẹ bằng lông

6. Toán thi : mỗi câu đều có từ chỉ con số

Mừng bạn thơ vui xuân 79

Xuân này dương lịch chín mươi hai
Thiên Tước mong anh đủ chục mười
Nhớ tiệc thất tuần sao quá chóng
Sang năm bát thập lại càng vui
Ba toong vũ luyện bao người học
Bảy bước văn hay khối bạn đ̣i
An mạnh mừng nhau thêm một tuổi
Bốn mùa thanh thản mộng thơ chơi

7. Liên hoàn : là thể thơ mà trong một hay nhiều đoạn nối tiếp, câu cuối đoạn trên trở thành câu đầu đoạn dưới

Thi lấy được

Anh Phán nhà ta biết cóc ǵ
Kỳ thi tham biện cũng ra thi
Nhất th́ anh đỗ, nh́ anh trượt
Chẳng đậu khoa này, khoa khác đi
 
Chẳng đậu khoa này, khoa khác đi
Nam nhi chi chí há lo ǵ
Một, hai, ba, bốn, năm năm trượt
Nhẵn mặt quan trường chẳng thẹn chi
 
Nhẵn mặt quan trường chẳng thẹn chi
Trượt thi thi trượt vẫn gan lỳ
..........

8. Liên hoàn thuận nghịch vận : là thể thơ như trên, nhưng bài sau viết ngược vần bài trước

Xem ḥn non bộ

Non nhân, nước trí, điểu muông hiền
Núi giả mà in dáng tự nhiên
Một vũng xinh xinh vươn một ngọn
Hai cầu nho nhỏ vắt hai triền
Thuyền ngư lướt suối dong miền tục
Cánh hạc trườn mây bổng cơi tiên
Đổi cảnh tâm tư dường nhẹ nhơm
Lâng lâng chẳng bợn chút ưu phiền
 
Lâng lâng chẳng bợn chút ưu phiền
Bàn đá say cờ đôi lăo tiên
Lă vọng buông câu vờn sóng nước
Phật đài mở lối lượn ven triền
Sơn thanh thủy tú, hồn u nhă
Sắc lộng hương nùng, khí hạo nhiên
Phong cảnh tạo h́nh như giới thiệu
Chủ nhân đây cũng bậc minh hiền

9. Ô thước kiều : cũng là thể thơ liên hoàn, nhưng lấy 2 từ cuối hoặc nhắc lại 2,3 từ nào đó ở câu cuối bài trên để mở đầu cho bài dưới

T́nh người ly hương

Khổ nào sánh đặng khổ chia ly
Giă biệt quê yêu biết viết ǵ
Bút nghẽn trăm t́nh thơ lạc vận
Tơ ṿ chín khúc lệ hoan mi
Tương liên nghĩa ấy khôn mờ nét
Tái ngộ ngày nao khó định kỳ
Bốn biển cho dù trong một cơi
Bàng hoàng tâm sự bước ra đi
 
Ra đi thơ bạn rời xa măi
Ngoảnh lại non sông cách biệt rồi
Đất mẹ bỗng dưng thành đất khách
Quê người dễ dám nhận quê tôi
Á Âu tuy một mà hai giống
Nam Bắc dù hai cũng một ṇi
Bịn rịn khôn ngăn ḍng cảm khái
Muôn ngàn lưu luyến buổi chia phôi
 
Chia phôi một sớm sầu lên ải
Khác biệt đôi phương lệ ứa tṛng
Chưa chút hương trao về bạn hữu
Có ǵ ? Để hẹn với non sông
Ngẩn ngơ bước khách trời xanh mặt
Lai láng t́nh quê máu đỏ ḍng
Nông nỗi vơi đầy ai biết nhỉ
Bẽ bàng mấy vận dệt khôn thông
 
Khôn thông án lạnh tơ nhiều mối
Khó giải niềm riêng giấy một tờ
Luống thẹn với ḿnh than với bóng
Để buồn cho bút nghẽn cho thơ
Hương thơm đất nọ duyên đành đoạn
Cảnh lạ trời kia tuyết phủ mờ
Kẻ ở người đi muôn dặm cách
Lữ hành thêm ngán nỗi chơ vơ
 
Chơ vơ ......

10. Tập danh : là thể thơ mà trong mỗi câu đều có danh từ gắn với đề tài

       Mừng ông lăo hàng thịt ăn thượng thọ

Nay tiết mừng ông mới Bảy mươi
Cổ hi chưa dễ mấy lăm người
Răng long nhưng hăy c̣n tinh mắt
Đầu bạc nhưng mà chửa tắc tai
Bè bạn bày vai kèo chén Lư
Cháu con dưới gối múa sân Lai
Xưa nay vẫn giữ ḷng chân thực
Chữ đức giả xương máu để đời

Hương sắc trời hè

Ve khơi lửa lựu lập ḷe bông
Phượng vĩ đua nhau diện áo hồng
Nức khóm dạ lan cơn gió thoảng
Thơm giàn thiên lư bóng trăng lồng
Cau vừa hé nhụy say canh mộng
Ngâu đă đưa hương át khí nồng
Ngào ngạt trong khuya nhài mở cánh
Mặt hồ sen tỏa ngát tầng không

11. Liên ngâm (hợp thái) : là thể thơ 2 hay nhiều người làm chung một bài, lần lượt mỗi người một hoặc hai câu.

Cảnh Tây Hồ (1)

Hồ Tây riêng chiếm một bầu trời
Bát ngát tư mùa rộng mắt coi
Cỗi ngọc xanh xanh làng phía cạnh
Trâu vàng biêng biếc nước vàng khơi
Che mưa nhà lợp vài gian cỏ
Chèo gió ai bơi một chiếc chài
Giậu thủng chó đua đàn sủa tiếng
......

# (1) Bài này tương truyền do bà chúa Liễu Hạnh cùng Phùng Khắc Khoan và 1 vị họ , 1 vị họ Ngô đi chơi thuyền ở Hồ Tây liên ngâm

12. Tính danh : câu nào cũng có chỉ nhân danh hoặc địa danh

Lỗi thề

Vùi oan bạc mệnh sóng Tiền Đường (1)
Ngọn đuốc Chiêm Thành (2) rơ nhớ thương
Chắp cánh đẹp ǵ câu Thất Tịch (3)
Ôm cầm say măi gái Tầm Dương (4)
Lỗi thề Chung Tử (5) sầu tri kỷ
Hoen mái Tây Hiên (6) lệ đoạn trường
Hồ Hán (7) ngậm ngùi mây cách biệt
Ngân Hà (8) mưa gió nẻo cầu sương
 
# (1) nói về Kiều trầm ḿnh ở sông Tiền Đường
(2) nói về Huyền Trân công chúa sang Chiêm Thành
(3) nói về Đường Minh Hoàng và Dương Quư Phi đêm mùng 7 tháng 7 (thất tịch) thề cùng nhau "sống làm vợ chồng, chết là chim liền cánh, cây liền cành"
(4) Bạch Cư Dị đêm đậu thuyền ở bến Tầm Dương làm bài Tỳ Bà Hành cho ca kỹ hát
(5) tích Bá Nha gảy đàn, Tử Kỳ biết Bá Nha nghĩ ǵ. Sau Tử Kỳ chết, Bá Nha đập đàn không gảy nữa
(6) tích Trương Quân Thụy và Thôi Oanh Oanh t́nh tự dưới mái Tây Hiên
(7) tích Chiêu Quân cống Hồ
(8) tích Ngưu Lang Chức Nữ

13. Thủ vĩ ngâm : câu đầu và câu cuối giống nhau

Cảm tưởng khi xem chèo Quan Âm Thị Kính

Ngán ngẩm cho bay một lũ mù
Dây oan quàng đến cả thầy tu
Thị Mầu "ễnh ruột" làng ăn khoán
Tiểu Kính ngay ḷng gái cáo vu
Đầu Phật sao gieo điều bội Phật
Ái phu mà gán tiếng vong phu
Quá ham rượu thịt mờ con mắt
Ngán ngẩm cho bay một lũ mù

14. Triệt hạ : từ cuối cùng của mỗi câu thơ bỏ lửng làm cho câu thơ chưa trọn nghĩa

Châu về Hợp Phố

Giáp Tư hung niên cứ ngỡ là ...
Mấy "viên ngọc quư" úm ba la ...
Dă tràng xe cát công lao những ...
Nước lă ra sông phút chốc mà ...
Trăng lặn sao mờ đành nhẽ để ...
Trời quang mây tạnh ấy may ra ...
Vận hồng bỗng mở duyên thơ khéo ...
Hợp Phố châu về, suưt nữa ta ...

Chợt thấy

Thác bức rèm châu chợt thấy mà ...
Chẳng hay người ngọc có hay đà ...
Nét thu gợn sóng h́nh như thể ...
Cung nguyệt quang mây chắc ngỡ là ...
Khuôn khổ ra chiều người ở chốn ...
Nết na xem phải thói con nhà ...
Dở dang nhắn gửi xin thời hăy ...
T́nh ngắn t́nh dài chút nữa ta ...

15. Yết hậu : yết là nghỉ, hậu là sau, là lối thơ mà các câu trên đủ từ cả, riêng câu cuối chỉ có 1 từ

Lươn

Cứ ngỡ rằng ḿnh ngắn
Ai ngờ cũng dài ườn
Thế mà con chê trạch
Lươn !

16. Phá cách : thất niêm có dụng ư

Trèo đèo Ba Dội

Một đèo, một đèo, lại một đèo
Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo
Cửa son đỏ loét tùm hum nóc
Kẽ đá xanh ŕ lún phún rêu
Lắt léo cành thông cơn gió thốc
Đầm đ́a lá liễu giọt sương gieo
Hiền nhân quân tử ai mà chẳng
Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo

17. Sắc thái : câu nào cũng có từ chỉ màu sắc

Chiều nổi màu thu

Trời thu bóng ác rực màu vang
Trườn trượt vào lưng rặng núi chàm
Cánh nhạn chiều tà sương lót trắng
Cḥm mây mưa nhạt khói mờ lam
Lầu thu thoát nắng nâng rèm tía
Vườn vắng c̣n đây nở đóa vàng
Nếu chẳng vươn t́m hoa súng tím
Th́ đâu được ngắm nguyệt da cam

18. Láy : mỗi câu đều có từ láy

Quán Khánh (Thanh Hóa)

Đứng tréo trông theo cảnh hắt heo
Đường đi thiên thẹo quán cheo leo
Lợp lều mái cỏ tranh xơ xác
Xỏ kẽ kèo tre đốt khẳng khiu
Ba chạc cây xanh h́nh uốn éo
Một ḍng nước biếc cảnh leo teo
Thú vui quên cả niềm lo lắng
Ḱa cái diều ai nó lộn lèo

Xuân Rạng Đông

Dồn dập hùng kê cất tiếng vang
O o chấn động khắp nhân hoàn
Từ từ đêm quạnh thu nhỏ lại
Vội vă xuân t́nh chuyển nhịp sang
Mặt đất bừng bừng dâng khí thế
Đầu đông rạng rỡ tỏa dương quang
Mùa sang vạn vật đều tươi tỉnh
Cuộc sống vào say lắm rộn ràng

19. Thuận nghịch độc (hồi văn) : thể thơ đọc xuôi là một bài mà đọc ngược cũng là một bài

Thu nhớ

Canh thu đối nguyệt thưởng chung trà
Gợi nhớ mong h́nh bóng nẻo xa
Cành điểm cúc khoe hương đạm ủ
Cánh vươn hồng lộng ánh mơ pha
Mành hoa phất phất đưa theo gió
Khúc nhạc mênh mông bỗng vút đà
Tranh ngắm tưởng người ai có biết ?
Canh thu đối nguyệt thưởng chung trà
 
Trà chung thưởng nguyệt đối thu canh
Biết có ai người tưởng ngắm tranh
Đà vút bổng mông mênh nhạc khúc
Gió theo đưa phất phất hoa mành
Pha mơ ánh lộng hồng vươn cánh
Ủ đạm hương khoe cúc điểm cành
Xa nẻo bóng h́nh mong nhớ gợi
Trà chung thưởng nguyệt đối thu canh

Hồ Gươm dưới trăng

Hồ rạng đẹp lên ánh diệu kỳ
Dáng duyên xuân thủy lục quang huy
Tơ mành rủ liễu say trăng gió
Ảnh nguyệt vờn hoa lộng nhạc thi
Mờ lại tỏ Nghiên đài Bút tháp
Thực hay hư báu kiếm thần quy
Thơ đề ư gợi hồn non nước
Vơ vẩn ngẫm đời bước thịnh suy
 
Suy thịnh bước đời ngẫm vẩn vơ
Nước non hồn gợi ư đề thơ
Quy thần kiếm báu hư hay thực
Tháp Bút đài Nghiên tỏ lại mờ
Thi nhạc lộng hoa vờn nguyệt ảnh
Gió trăng say liễu rủ mành tơ
Huy quang lục thủy xuân duyên dáng
Kỳ diệu ánh lên rạng đẹp hồ

20. Phú đắc : cách giải thích hay phát triển ư của một câu ca dao hay một câu thơ bằng một bài thơ Đường, nhưng nội dung phải phù hợp với 1 sự việc nào đó

Già c̣n muốn lấy chồng

Bà già đă bảy mươi tư
Ngồi trong cửa sổ gửi thư kén chồng
 
Đă trót sinh ra kiếm má đào
Bảy mươi tư tuổi có là bao
Xuân xanh xấp xỉ hàng răng rụng
Ngày vắng ân cần mảnh giấy trao
Chữ nhất nhi chung đành đă vậy
Câu tam bất hiếu nữa làm sao
May mà lấy được ông chồng trẻ
Họa có sinh ra được chút nào

21. Áp cú : từ ở cuối câu trước thành từ đầu câu sau

Sang canh

Năm nảo năm nao cũng ước lành
Lành, c̣n mong hết ? Đón sang canh
Canh trời thắc thỏm phương xin lộc
Lộc nước lăm le khách vít cành
Cành lá đêm qua dù thiếu nụ
Nụ đào xuân hé đẹp hơn tranh
Tranh đời mới lại màu hoa gấm
Gấm vóc sơn hà lộng sắc xanh

22. Chơi chữ : trong 1 bài thơ có dùng từ đứng riêng hoặc ghép lại để mô tả một ư ǵ thể hiện yêu cầu của đề tài hoặc có thể mang nghĩa khác

Mừng có cháu

Bồng thằng cháu nội, thỏa ḷng chưa
Bơ những ngày đêm khắc khoải chờ
Cành bổng đầu mùa tươi quả bói
Mầm non cổ thụ biếc rừng xưa
Ông thơm bà dọa không cho bế
Bà nựng ông ru lại cứ đùa
Trông cháu nũng bà ông khoái chí
Khề khà hứng bút lại làm thơ

23. Ngôn thi : loại thơ viết nghe như nói chuyện

Sai người nhà là Cam đi hái hoa

Cam sớm ra thăm gốc hải đường
Hái hoa về để kết làm tràng
Những cành đă nở đừng tay nặng
Mấy đóa c̣n xanh chớ bẻ quàng
Với lại tây hiên t́m liễn sạ
Rồi sang đông viện lấy b́nh hương
Mà về cho chóng đừng thơ thẩn
Kẻo lại rằng không dặn kỹ càng

24. Kỵ đề : thể thơ mà các câu đều không có từ nào chỉ đề tài mà vẫn thể hiện đầy đủ ư của đề tài

Xuân Rồng đề thơ Rồng

Dương vây uốn khúc lướt thiên tŕnh
Vẫn đứng hàng đầu đám tứ linh
Cửa khuyết cung son khi ngự trị
Trời cao biển rộng lúc tung hoành
Chia ngôi tả hữu song triều nhật
Khạc lửa đêm ngày thoắt hiện h́nh
Hủy diệt uy danh không lực Mỹ
Pháo đài bay rụng giữa đô thành

 

 

Send mail to Giang_Hoai_Ngoc@yahoo.com with questions or comments about this web site.
Copyright © 2006 Van Duc Cung
Last modified: December 24, 2007